Game vui Đọc Truyện Hình ảnh đẹp Nâu ăn ngon Xem phim online Tin tức hàng ngày Nghe nhạc online Free flash games Phật giáo online Karaoke online Beauty Tips Game Sóc Yêu Flash game solo Game mới Từ điển Anh Viet Học ngoại ngữ Dich lời bài hát English test online Tiếng Anh ABC Rao vặt miễn phí Free Flash Games English test Kết quả xổ số Bóng đá livescore Tạp chí trẻ Tin tức hàng ngày Trò chơi thời trang Free Fonts Trò chơi Việt Vui MP3 Online Xem tử vi tướng số Baby Care Center Thiệp chúc mừng Chụp hình Hàn Quốc Hot girl photo Tấu hài vui nhộn Mang thai sinh đẻ Từ điển Việt Anh Bác sỹ gia đình Danh bạ web hay Web hay chon lọc Shock Tube
Sat 13 December 2008
 

Viêm loét dạ dày - ruột và ngộ độc thực phẩm

Viêm loét dạ dày - ruột và ngộ độc thực phẩm là các bệnh khác nhau có các nguyên nhân khác nhau. Tuy nhiên, nhiều người dễ nhầm lẫn hai chứng này do một số dấu hiệu trùng nhau như buồn nôn, nôn mửa, tiêu chảy và đau bụng.

Viêm loét dạ dày - ruột thường do nhiễm virus đường ruột gây ra. Để phòng bệnh, bạn phải tránh bị lây nhiễm virus.

Ngộ độc thực phẩm thường do độc tố của vi khuẩn phát triển trong thực phẩm không được xử lý hoặc bảo quản hợp vệ sinh. Vi khuẩn có thể phát triển nhanh khi thực phẩm (nhất là thịt, sữa và nước sốt) không được bảo quản và chế biến hợp vệ sinh hoặc không được giữ ở nhiệt độ cần thiết. Vi khuẩn tiết ra độc tố làm viêm ruột ác tính.

Thực phẩm bị nghi ngờ nhiễm độc tố khi những người cùng ăn thực phẩm đó có các triệu chứng bất thường giống nhau, hoặc những thực phẩm không được giữ lạnh. Các triệu chứng ngộ độc có thể xuất hiện trong 1 hoặc 2 giờ hoặc kéo dài đến 48 giờ sau khi ăn. Buồn nôn, nôn mửa và tiêu chảy có thể kéo dài từ 12 tới 48 giờ đối với ngộ độc thực phẩm thông thường.

Chứng ngộ độc thực phẩm chế biến sẵn (xúc xích và đồ hộp bị hư) ít khi xảy ra nhưng thường gây tử vong. Nó thường xảy ra do phương pháp đóng hộp không hợp vệ sinh, nhất là đối với các thực phẩm kém axit như đậu và ngô. Vi khuẩn sống sót trong tiến trình đóng hộp có thể phát triển và tiết độc tố trong vỏ hộp.

* Phòng tránh

- Thận trọng khi ăn nhiều thịt đã được nấu để nguội.

- Không để thịt tan đông lạnh ở ngoài bàn bếp.

- Rửa tay, thớt, mặt bàn bếp sạch sẽ thường xuyên. Sau khi làm thịt sống, nhất là thịt gà, phải rửa tay và dụng cụ sạch sẽ trước khi làm món ăn.

- Phải hâm nóng thịt để tiệt trùng.

- Nấu kỹ thịt băm viên, thịt gà cho tới khi nước của nó chảy ra.

- Không ăn trứng sống hoặc nước sốt làm bằng trứng sống.

- Giữ đông lạnh thực phẩm dự trữ.

- Khi đi ăn nhà hàng, tránh ăn thịt tái.

- Bỏ những đồ hộp bị trương phình nắp và bị xì rỉ.

* Chữa trị tại nhà

Viêm loét dạ dày - ruột do virus gây ra thường hết trong vòng 24 tới 48 giờ. Chăm sóc tốt tại nhà có thể phục hồi nhanh. Đối với người lớn và trẻ em 4 tuổi trở lên, nên xem Buồn nôn và nôn mửa, bệnh tiêu chảy. Đối với trẻ em dưới 4 tuổi:

- Theo dõi và chữa trị ngay các triệu chứng mất nước. Trẻ sơ sinh, trẻ em và người lớn tuổi có thể mất nước nhanh chóng khi bị tiêu chảy và nôn mửa.

* Cần đến y bác sĩ khi

- Nôn mửa kéo dài hơn một ngày ở người lớn.

- Tiêu chảy nặng (cứ hai tiếng đi phân lỏng 1 lần) kéo dài hơn hai ngày ở người lớn.

- Các dấu hiệu mất nước nhiều gia tăng.

- Nghi ngờ bị ngộ độc do thực phẩm đóng hộp hoặc có các triệu chứng ngộ độc thịt (như mờ mắt, bị ảo giác, khó tiêu hoặc khó thở).

Sat 13 December 2008
 

Viêm đường tiết niệu

Viêm nhiễm đường tiết niệu, còn gọi là viêm bàng quang, thường xảy ra ở phụ nữ và một số bé trai, cũng có thể xảy ra ở đàn ông. Các triệu chứng ban đầu gồm đau rát, đi tiểu đau và ngứa, đau buốt ở niệu đạo, khó chịu ở bụng dưới, buồn tiểu mà không đi tiểu được. Đàn ông có các triệu chứng này có thể bị nhiễm trùng tuyến tiền liệt.

Nhiễm trùng đường tiết niệu thường do vi khuẩn E.coli gây ra, thường qua hệ tiêu hóa. Vì phụ nữ có các niệu đạo ngắn nên dễ bị nhiễm trùng hơn nam giới.

Các nguyên nhân khác gây đau rát vùng sinh dục có thể là nhiễm trùng bàng quang, giao hợp, đặt vòng tránh thai, mặc quần jean hoặc quần bó sát, đi xe đạp, nín tiểu, dùng xà phòng có dầu thơm, phấn và cả thức ăn có nhiều gia vị.

Phòng tránh

- Uống nhiều nước.

- Lau rửa sạch sau khi đi vệ sinh để giảm sự lây nhiễm vi trùng từ hậu môn vào niệu đạo. Dạy cho con gái có thói quen này khi đi vệ sinh.

- Tránh thụt rửa âm đạo thường xuyên và không dùng chất khử mùi âm đạo hoặc sản phẩm làm vệ sinh có mùi thơm.

- Rửa vùng sinh dục mỗi ngày một lần bằng nước hoặc xà phòng kháng khuẩn nhẹ. Rửa kỹ và lau khô toàn bộ.

- Nếu nghi bị viêm đường tiết niệu, uống thêm nhiều nước trước khi giao hợp và đi tiểu ngay sau đó.

- Mặc quần lót vải cotton, quần tất bằng vải cotton và quần áo thoáng mát.

- Uống cây man việt quất hoặc cây việt quất để chống nhiễm trùng, nhất là phụ nữ giai đoạn hậu mãn kinh.

Chữa trị tại nhà

Cần chữa trị tại nhà ngay khi có dấu hiệu đau buốt đường tiết niệu đầu tiên. Khoảng sau một ngày là có thể loại trừ được các triệu chứng thông thường. Nên đi bác sĩ nếu các triệu chứng kéo dài hơn một ngày hoặc nặng hơn dù đã được chăm sóc. Vì các cơ quan của đường tiết niệu được nối liền với nhau nên bệnh viêm nhiễm bàng quang nếu không được chữa trị có thể lây lan và dẫn đến viêm thận hoặc các bệnh khác.

- Uống nước tối đa (có thể 4,5 lít) ngay khi thấy các triệu chứng và trong 24 giờ kế tiếp. Điều này giúp đẩy vi trùng ra khỏi bàng quang.

- Tránh uống rượu và thức uống có chất caffein.

- Tắm nước nóng để làm giảm đau buốt. Tránh tắm nước bồn có pha dầu thơm sủi bọt.

- Đo thân nhiệt và khám vùng sinh dục mỗi ngày hai lần. Sốt có thể cho thấy bị nhiễm trùng nặng.

- Tránh giao hợp cho tới khi các triệu chứng thuyên giảm.

- Nếu đau rát âm đạo và tấy đỏ xảy ra ở thiếu nữ, kiểm tra xem có phải bị dị ứng với dầu thơm sủi bọt hoặc xà phòng không.

 

Cần đến y bác sĩ khi

- Đi tiểu đau cùng với một trong các triệu chứng sau:

  + Sốt trên 37,7 độ C và ớn lạnh.

  + Không đi tiểu được khi buồn tiểu.

  + Đau ở vùng lưng ngay dưới lồng ngực.

  + Tiểu ra máu hoặc mủ.

  + Chất nhờn âm đạo khác thường.

  + Buồn nôn hoặc nôn mửa.

- Các triệu chứng không giảm sau 24 giờ chữa trị tại nhà.

- Đang mang thai hoặc bị bệnh tiểu đường và có các triệu chứng viêm nhiễm đường tiết niệu.

- Nghi đứa trẻ bị viêm nhiễm đường tiết niệu.

Viêm âm đạo

Đó là tình trạng viêm nhiễm âm đạo hoặc bị kích thích làm cho thay đổi chất nhờn âm đạo. Các triệu chứng chung gồm thay đổi về số lượng, màu, mùi hoặc ra chất nhờn đặc, ngứa; tiểu đau rát, giao hợp bị đau. Các loại viêm âm đạo thông thường gồm nhiễm nấm và vi trùng. Một số loại bệnh lây nhiễm qua đường tình dục có thể làm cho chất nhờn âm đạo khác thường. Các triệu chứng âm đạo bị nhiễm trùng là chất nhờn âm đạo có màu trắng hơi xám, loãng và có mùi tanh. Mùi thường khó chịu hơn sau khi giao hợp.

Nhiễm trùng âm đạo thường do dùng băng vệ sinh, đặt vòng tránh thai và quan hệ tình dục với nhiều người. Ngoài ra, đau rát còn do các nguyên nhân thông thường khác như thụt rửa âm đạo, mặc quần bó sát hoặc dùng sản phẩm vệ sinh có mùi thơm.

Phòng tránh

- Hạn chế giao hợp và dùng bao cao su khi giao hợp. Việc quan hệ tình dục với nhiều người có thể làm tăng rủi ro nhiễm trùng âm đạo do thay đổi môi trường của âm đạo.

- Nếu nghi là bị nhiễm trùng âm đạo liên quan đến đặt vòng tránh thai, cần được bác sĩ tư vấn về kiểm soát sinh sản.

- Lau rửa trước và sau khi đi vệ sinh để tránh lây lan vi trùng từ hậu môn vào âm đạo.

- Rửa vùng sinh dục mỗi ngày bằng nước sạch hoặc với xà bông dịu, không có mùi thơm. Rửa kỹ và lau khô toàn bộ. Tránh thụt rửa.

- Tránh dùng bình xịt khử mùi và các sản phẩm có mùi thơm khác. Chúng có thể làm kích thích vùng da nhạy cảm.

- Thay băng vệ sinh ít nhất một ngày ba lần hoặc đổi loại băng vệ sinh bằng gạc đệm.

Sat 13 December 2008
 

Viêm da dị ứng

Viêm da dị ứng (atopic dermatitis/eczema) là tình trạng rối loạn da mạn tính, thường gặp ở người bị hen, dị ứng bụi cỏ khô và các dị ứng khác. Nó gây ngứa, tấy đỏ, da nổi mụn, có thể chảy rỉ nước. Các chỗ thương tổn có chiều hướng bị nhiễm trùng, nhất là nếu để trầy xước.

Ở trẻ em, viêm da dị ứng phần lớn xuất hiện ở mặt, da đầu, hai mông, bắp đùi và thân mình. Ở người lớn, nó thường xuất hiện ở cổ, bên trong khuỷu tay và sau hai đầu gối. Do sử dụng chân tay nhiều, dễ bị tiếp xúc với các chất kích thích nên người lớn dễ bị viêm da dị ứng ở các chỗ này.

Viêm da dị ứng thường xuất hiện khi còn bé và phát triển mạnh cho tới trước tuổi trưởng thành. Nhiều trẻ em bị vào lúc 5 hoặc 6 tuổi.

Chữa trị tại nhà

Việc giữ cho da ẩm rất cần thiết để chữa trị thành công.

- Tắm rửa đều đặn hằng ngày với nước ấm (không dùng nước nóng). Dùng xà phòng kháng trùng nhẹ (Dove, Oil of Olay, Neutrogena) hoặc nước rửa không có xà phòng (Cetaphil hoặc Aveeno). Nếu có thể, không tắm bằng xà phòng.

- Sau khi tắm, lau da khô và bôi kem nhờn (Lubriderm, Moisturel). Kem này có thể giúp giữ cho da không bị khô.

- Dùng máy giữ ẩm phòng ngủ.

- Dùng thuốc uống chống dị ứng (Benadryl) để làm dịu cơn ngứa và dễ ngủ. Tránh dùng kem, bình xịt khử trùng và chống dị ứng, vì chúng làm kích thích da.

- Tránh tiếp xúc với các chất kích thích hoặc gây dị ứng. Mang găng tay khi làm việc với các chất kích thích.

- Giặt giũ quần áo và đồ trải giường bằng chất tẩy nhẹ ít nhất hai lần một tuần. Không dùng hóa chất làm mềm sợi vải nếu nó gây kích thích.

- Áp dụng các hướng dẫn để làm dịu cơn ngứa.

Cần đến y bác sĩ khi

- Rỉ hoặc chảy nước chỗ bị viêm loét. Đây có thể là dấu hiệu nhiễm trùng.

- Ngứa làm mất ngủ, chữa trị tại nhà không thuyên giảm.

- Việc chữa trị tại nhà không kiềm chế được viêm da dị ứng.

Sat 13 December 2008
 

Vẩy cứt trâu

Vẩy cứt trâu là tình trạng có vẩy màu đen nâu, nhờn như dầu hoặc cứng trên da đầu của trẻ em. Nó do chất dầu bình thường tạo thành trên da. Vẩy cứt trâu phổ biến ở các em bé và dễ chữa trị.

Chữa trị tại nhà

- Gội đầu em bé bằng dầu gội mỗi ngày một lần. Chà nhẹ lớp vẩy bằng bàn chải có lông mềm (như bàn chải răng loại lông mềm có tác dụng tốt) trong một vài phút cho tróc vẩy ra. Đừng sợ làm hại xương sọ của em bé vì nó cứng cáp hơn chúng ta nghĩ. Gội sạch.

- Cũng có thể lau bằng dầu khoáng lên chỗ bị cứt trâu một giờ trước khi gội bằng dầu gội để làm vẩy tróc ra.

- Nếu việc gội bằng dầu gội em bé không có tác dụng, thử dùng dầu gội chống gàu, chẳng hạn như Selsun blue, Head & Shoulders hoặc Sebulex. Nên cẩn thận vì các dầu gội này có thể làm đau rát đôi mắt của em bé.

- Nếu bị mẩn đỏ, dùng kem hydrocortisone loại nhẹ (Cortaid).

Bệnh bạch hầu thanh quản

Bệnh bạch hầu thanh quản là vấn đề về hô hấp, phổ biến nhất ở trẻ em từ 2 tới 4 tuổi. Nó có thể đi cùng với viêm nhiễm do virus gây ra, chẳng hạn như cảm lạnh. Triệu chứng chính là ho khàn giọng. Thường sốt 37,8 đến 38,3 độ C. Trẻ em có thể rất hoảng sợ. Bệnh thường nặng vào ban đêm và có thể kéo dài từ 1 tới 7 ngày.

Chữa trị tại nhà

- Bình tĩnh. Đứa bé đã hoảng sợ rồi, cần được trấn an.

- Giữ không khí ẩm giúp trẻ dễ thở. Đưa trẻ vào phòng tắm, mở vòi nước nóng, sau đó ngồi xuống ở phòng có hơi nước xông vào và đọc truyện cho trẻ nghe.

- Bồng trẻ đi dạo ở nơi có không khí thoáng mát và trong lành. Không khí mát, ẩm là tốt nhất.

- Có thể xông hơi mát trong phòng ngủ của trẻ hoặc xông hơi bên dưới nôi (có phủ chăn ở trên). Nếu trẻ lớn hơn, có thể dùng chăn trùm hoặc dù che. Nếu dùng chăn, để một tấm giấy bên trên để theo dõi độ ẩm. Đừng sợ trẻ bị ớn lạnh. Không khí ẩm và mát là thành phần quan trọng.

- Nếu trẻ bắt đầu khóc, điều này có thể là dấu hiệu tích cực cho thấy trẻ đang thở bình thường.

Cần đến y bác sĩ khi

Gọi điện thoại cho cơ quan y tế gần nhất hoặc tìm dịch vụ cấp cứu khi:

- Đứa trẻ ngừng thở hoặc bắt đầu tái xanh. Cần thở cấp cứu (một phần trong tiến trình hô hấp nhân tạo) cho tới khi xe cấp cứu đến.

- Các dấu hiệu lâm nguy về hô hấp xuất hiên và kéo dài dù đã được chữa trị tại nhà:

  + Có tiếng rít khi đứa bé hít vào.

  + Khi đứa bé hít vào, các xương sườn co rút lại.

  + Hai lỗ mũi phồng lên.

- Đứa bé thở quá dốc đến nỗi nó không thể đi hoặc nói được.

- Đứa bé chảy mũi dãi; hoặc cằm lồi ra và há miệng khi thở.

- Hai mươi phút hít hơi xông hoặc không khí mát ở ngoài trời không đủ làm thư giãn cho đứa bé ngủ.

- Đứa bé sốt 39 độ hoặc cao hơn.

- Bạn và đứa bé quá hốt hoảng và không thể lấy bình tĩnh được.

- Lần đầu có bệnh bạch hầu thanh quản ở gia đình và cần được trấn an.

- Bệnh bạch hầu thanh quản kéo dài hơn ba đêm.

Sat 13 December 2008
 

Ung thư tuyến tiền liệt

Ung thư tuyến tiền liệt là loại ung thư phổ biến, đứng hàng thứ hai trong các bệnh ung thư gây tử vong ở nam giới. Nó thường là loại ung thư nhỏ và phát triển chậm. Nếu được phát hiện sớm, trước khi khối u lan sang các cơ quan khác, loại ung thư này có thể được chữa khỏi.

Nguy cơ mắc ung thư tuyến tiền liệt tăng lên theo tuổi tác, tập trung phần lớn ở nam giới trên 65 tuổi. Tuy nhiên, nó có thể xuất hiện ở người trẻ tuổi.

Ung thư tuyến tiền liệt không có các triệu chứng rõ ràng. Phần lớn trường hợp không có các triệu chứng nào. Ở một vài người, nó có thể gây ra các triệu chứng về đường tiểu, rất giống với triệu chứng phì đại tuyến tiền liệt. Trong các trường hợp nặng, các triệu chứng khác có thể xuất hiện, chẳng hạn như đau (có thể do ung thư lan sang các cơ quan khác). Đôi khi ung thư tuyến tiền liệt xảy ra trong cùng gia đình và có chiều hướng phổ biến ở nam giới ăn nhiều chất béo.

Phòng tránh

Duy trì chế độ ăn uống ít chất béo được coi là cách duy nhất để làm giảm nguy cơ bị ung thư tuyến tiền liệt.

Có nhiều mâu thuẫn về cách đánh giá các phương pháp khám trực tràng bằng siêu âm và xét nghiệm máu bằng kháng nguyên để xác định xem một người có bị ung thư tuyến tiền liệt không. Việc dùng các xét nghiệm này để phát hiện ung thư tuyến tiền liệt sớm chưa cho thấy khả năng cải thiện được bệnh tình và kéo dài tuổi thọ.

Do đó, nhiều chuyên gia y tế chưa khẳng định rằng việc khám trực tràng bằng siêu âm hoặc xét nghiệm máu bằng kháng nguyên có thích hợp đối với tất cả nam giới không. Cần có ý kiến của bác sĩ về xét nghiệm để chẩn đoán.

Chữa trị tại nhà

Việc chữa trị ung thư tuyến tiền liệt đáp ứng tùy theo từng cá nhân. Cần phải có sự theo dõi của y bác sĩ để đem lại lợi ích tích cực hơn.

- Tìm hiểu tất cả các phương pháp điều trị hiện có, có thể phải chờ để bác sĩ có thể chọn lựa một giải pháp thích hợp nhất cho bạn.

- Tuổi tác, sức khỏe tổng quát và đặc tính của ung thư là những yếu tố quan trọng để xem xét các quyết định điều trị.

Cần đến y bác sĩ khi

- Có bất kỳ một trong các triệu chứng được đề cập ở phần Cần đến y bác sĩ đối với chứng viêm tuyến tiền liệt hoặc phì đại tuyến tiền liệt.

- Bị đau xương trầm trọng.

Sat 13 December 2008
 

Tự chăm sóc tâm thần và trí óc lành mạnh

Tự chăm sóc tâm thần

Các vấn đề sức khỏe tâm thần thường có nguyên nhân thể chất. Nó có thể bắt đầu khi bị stress về tâm lý hoặc cảm xúc(chẳng hạn như thất tình), khích thích các chất hóa học trong não. Dù một số người có thể chịu đựng stress nhiều hơn người khác nhưng không ai được "miễn dịch" với bệnh tâm thần.

Do các vấn đề về sức khỏe tâm thần có cả nguyên nhân thể chất và tâm lý nên việc tự chăm sóc và nhờ sự giúp đỡ của giới chuyên môn đều cần thiết. Mục đích là để giảm stress và phục hồi tiến trình hóa học bình thường trong não.

Bạn cần đến sự giúp đỡ của y bác sĩ chuyên khoa khi:

- Các triệu chứng tâm thần hoặc cảm xúc trở nên nghiêm trọng hoặc suy sụp.

- Sự suy sụp trở nên liên tục hoặc có tác động thường xuyên, việc tự chăn sóc không làm giảm bớt.

- Các triệu chứng trở nên nhiều và ảnh hưởng đến tất cả các mặt trong cuộc sống; việc tự chăm sóc ở nhà không đem lại kết quả.

- Có ý nghĩ tự tử.

Bạn có thể tìm đến:

- Bác sỹ gia đình: Các vần đề về sức khỏe tâm thần có thể do nguyên nhân thể chất. Vì vậy, bác sĩ có thể xem xét hồ sơ bệnh lý và cho các loại thuốc cần thiết, tư vấn hoặc đề nghị đi điều trị ở bác sĩ chuyên khoa.

- Bác sỹ tâm thần: Là các bác sĩ chuyên về những rối loạn về tâm thần. Họ tư vấn cho các bệnh nhân, kê đơn và điều trị theo từng giai đoạn.

- Các nhà tâm lý, nhân viên xã hội và các nhà tư vấn: Giới chuyên môn này đã được đào tạo đặc biệt để giúp những người có các vấn đề về sức khỏe tâm thần. Họ giúp bệnh nhân nhận biết, hiểu được tình trạng của mình và khai thông các tư tưởng, cảm xúc bị rối loạn.

- Các nhóm trợ giúp: Việc nói chuyện với người khác thường đối phó được với các vấn đề trên.

Sat 13 December 2008
 

- Ti t lâu đã được con người biết đến không ch là đ gia v làm cho các món ăn thêm phn hp dn và ngon ming, mà nó còn là mt v thuc cha bnh kỳ diu ca thiên nhiên.

Thành phn ca ti cha nhiu cht kháng sinh allicin giúp chng li các virút gây bnh. Tinh du t ti giàu glucogen và aliin, fitonxit có công dng dit khun, sát trùng, chng viêm nhim. Ngoài ra, ti còn cha hàm lượng ln vitamin A, B, C, D, PP, hiđrát cacbon, polisaccarit, inulin, fitoxterin và các khoáng cht khác cn thiết cho cơ th như: it, canxi, pht pho, magiê, các nguyên t vi lượng.

 Loi gia v này còn giúp làm gim lượng cholesterol trong máu, giàu cht chng oxi hoá giúp khôi phc hot đng ca các tế bào trong cơ th, nâng cao sc đ kháng, giúp cơ th chng li rt nhiu bnh tt, trong đó có c các bnh ung thư nguy him.

 Ti không nhng được s dng làm gia v khi chế biến các món ăn mà nó còn làm thuc cha các bnh như: đau bng, cm cúm, đy bng, khó tiêu, gan, tim mch, thp khp, huyết áp, tim mch, tiu đường…

 Trong y hc, ti được dùng vào mc đích cha bnh bng nhiu cách khác nhau như: ăn sng, chế biến ln vi thc ăn, ngâm vi rượu, ngâm vi dm… Mi ngày ăn 10g ti s giúp tăng cường kh năng gii đc cho cơ th.

 Tuy nhiên, các chuyên gia dinh dưỡng khuyên trước khi chế biến ti nên thái lát mng ri đ ngoài không khí 15phút đ các cht kháng sinh có trong ti kết hp vi oxy ngoài không khí mi to ra cht chng ung thư hiu qu.

 Dưới đây là cách chế biến mt s bài thuc tr bnh t ti:

 1. Cm cúm

 - Dùng ti sng hoc ti ngâm vi dm trong vòng 30 - 40 ngày đ ăn hàng ngày.

 - Ép ly nước ti, pha loãng vi nước sch theo t l 1:10. Cho thêm chút mui sch. Dùng nước này đ nh vào mũi t 2 -3ln/ngày.

 2. Đy bng, khó tiêu

 - Dùng nước ép ti, b bã pha loãng vi nước m đ ung hàng ngày.

 - Ly 50g ti xay nh, ngâm vi 200ml rượu trng trong vòng 15 ngày. Dùng rượu và bã ti đ ung. Mi ln 1thìa cà phê, 2-3ln/ngày.

 3. Ho, viêm hng

 - T Ngưòi viết: justsmile lúc 07:38 | Mục: Y Hoc.
Xem chi tiết | Gửi cho bạn bè | Nhận xét (<%EntryCommentCount%>) | Viết nhận xét

Sat 13 December 2008
 

Tinh thần suy sụp

Hầu như mọi người đều trải qua một dạng suy sụp tinh thần nào đó vào một thời điểm nào đó trong cuộc sống. Sự suy sụp tinh thần có thể ở thể nhẹ hoặc đe dọa cuộc sống. Bệnh có thể chữa trị được.

Sụ suy sụp xảy ra ảnh hưởng đến cơ thể, trí óc và hành vi xã hội. Phần lớn những trường hợp nghiêm trọng có liên quan đến các vấn đề thông tin hóa học (truyền tải của dây thần kinh) ở não. Các yếu tố kích thích bao gồm:

- Thất tình hoặc gặp một biến cố quan trọng.

- Căng thẳng mạn tính hoặc có sự kiện thật căng thẳng.

- Mắc bệnh nặng

- Phản ứng thuốc

- Nghiện rượu, lạm dụng thuốc an thần, bị tâm thần phân liệt và các vấn đề tinh thần khác.

Ở một số người, sự suy sụp tinh thần liên quan đến yếu tố di truyền. May mắn là việc điều trị có kết quả đối với họ.

Tâm trạng buồn rầu không phải lúc nào cũng dẫn đến tình trạng suy sụp tinh thần. Các tin xấu hoặc sự chán nản có thể làm cho người ta cảm thấy buồn, thậm chí buồn trong nhiều ngày. Đây là hiện tượng bình thường, trừ khi tình trạng phiền diễn ra liên tục không thể dứt được.

Chữa trị tại nhà

Phần lớn trường hợp suy sụp tinh thần sẽ thuyên giảm hoặc phục hồi được. Việc tự chăm sóc có thể giúp bệnh nhân ra khỏi tình trạng suy sụp. Đối với trường hợp nghiêm trọng, có thể bệnh nhân cần được bác sĩ điều trị

- Vào lúc có dấu hiệu đầu tiên về sự suy sụp tinh thần, cần nhờ bạn bè quan tâm, để ý thêm. Bệnh nhân có thể mất khách quan khi cảm thấy chán nản.

- Để ý những yếu tố có thể là nguyên nhân gây ra hoặc làm tăng thêm tình trạng suy sụp tinh thần, chẳng hạn như tự hỏi xem có phải do dùng thuốc không? Nhờ bác sĩ hoặc dược sĩ xem xét đơn thuốc và các loại thuốc mua ngoài.

- Năng động. Điều này dễ dàng làm cho bạn cảm thấy phấn chấn hơn và làm điều gì đó tốt hơn để cảm thấy phấn chấn.

- Phục hồi cân bằng trạng thái tinh thần bằng các chuyện vui hoặc tập thể dục.

- Khuyến khích lòng tự trọng

- Tin là trạng thái đó sẽ qua.

- Gần gũi với những người vui tươi và lạc quan.

Khi cần đến y bác sĩ

Vì có nhiều yếu tố có thể gây ra suy sụp tinh thần nên việc kết hợp tự chăm sóc với điều trị thường có kết quả tốt. Phần lớn các hình thức chữa trị thông thường có kết hợp giữa tư vấn (liệu pháp tâm lý) với dùng thuốc. Cần đến sự giúp đỡ của bác sĩ khi:

- Thấy mình có tư tưởng tự tử.

- Nghi bị suy sụp tinh thần nghiêm trọng.

- Nghĩ mình đang bị suy sụp tinh thần và đã chữa trị tại nhà hai tuần không có kết quả.

- Sự đau buồn tiếp tục xảy ra mà không thuyên giảm, kéo dài hơn 4 tuần.

Sat 13 December 2008
 

Suy nghĩ tích cực

Người có các thái độ tích cực thường có cuộc sống vui tươi hơn và sức khỏe tốt hơn. Người lạc quan có thể nỗ lực vượt qua cơn đau và sự bất hạnh, làm tăng kết quả trị liệu bằng thuốc. Ví dụ: Những bệnh nhân mạch vành có tinh thần lạc quan thường phục hồi nhanh chóng và ít bị biến chứng sau mổ hơn người ít hy vọng.

Trái lại, tính bị quan thường làm cho bệnh tình nặng thêm.

Gia tăng hệ miễn dịch

Hệ miễn dịch của bạn phản ứng theo những suy nghĩ, cảm xúc và hành vi của chính bạn. Hơn nữa, lối sống lành mạnh, chế độ ăn uống điều độ và sự kiểm soát căng thẳng tinh thần theo ba phương pháp sau sẽ giúp cho hệ miễn dịch thực hiện chức năng tốt hơn.

1. Có các ước muốn tích cực về sức khỏe

Các ước muốn tinh thần và cảm xúc có thể ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Việc thay đổi các ước muốn từ tiêu cực thành tích cực có thể làm cho hệ miễn dịch của bạn tốt lên. Sau đây là cách để thay đổi:

- Bỏ tất cả những suy nghĩ tiêu cực. Đưa ra những lời nói tích cực chứng tỏ bạn tin mình sẽ phục hồi nhanh.

- Viết một là thư cho căn bệnh của bạn, bảo nó là bạn không cần nó nữa và hệ miễn dịch đã sẵn sàng kết liễu nó.

- Truyền vào dòng máu của bạn sự khẳng định chắc chắn: “Tôi là người có khả năng” hoặc: “Các khớp của tôi mạnh khỏe và dẻo dai”.

- Hình dung ra bạn được khỏe mạnh và chữa khỏi. Bổ sung thêm các hình ảnh tinh thần để hỗ trợ các khẳng định tích cực của mình.

- Trở thành người lãnh đạo vui tươi đối với hệ miễn dịch của bạn. Nói với nó và khuyến khích nó phải khỏe mạnh để chống chọi liên tục với bệnh tật.

2. Cởi mở, vui tươi, quan hệ tốt

Những cảm xúc tích cực tăng cường hệ miễn dịch. Hầu như bất kỳ điều gì làm cho bạn cảm thấy vui vẻ đều sẽ giúp bạn sống khỏe mạnh hơn.

- Cười: Hài hước một chút làm cho cuộc sống phong phú và khỏe mạnh hơn. Tiếng cười làm tăng thêm óc sáng tạo, giảm đau đớn và mau khỏi bệnh. Nên xem các bằng video, hoạt hình và tranh ảnh hài hước.

- Tìm bạn: Tình bạn là điều rất cần thiết để có cuộc sống vui khỏe. Cuộc sống linh hoạt giúp bạn mau lành bệnh và giảm các ảnh hưởng của bệnh tật tới tinh thần.

- Làm việc thiện: Người làm việc thiện thường sống thọ hơn và thấy cuộc sống vui tươi hơn những người sống ẩn dật. Giúp người khác là giúp chính mình.

3. Nuôi trồng cây và thú cảnh

Việc chăm sóc thú và cây cảnh làm cho huyết áp hạ và nhịp tim chậm lại. Thú và cây cảnh giúp chúng ta cảm thấy mình hữu ích hơn.

Tính cứng rắn

Một số người dường như chống chọi được bệnh tật giỏi hơn người khác. Hệ miễn dịch của họ tác động một cách có hiệu quả hơn. Những người có tính cứng rắn được coi là có 3 yếu tố nhân cách nổi bật:

- Tôn trọng chính mình, công việc, gia đình và các giá trị khác.

- Có ý thức tự chủ.

- Coi các thay đổi trong cuộc sống là một thử thách hơn là một đe dọa.

Bạn có thể phát huy lòng tự trọng, tự chủ và chấp nhận những thử thách của cuộc sống không? Rõ ràng là được, nhất là nếu bạn bắt đầu ngay khi còn trẻ. Bạn có thể giúp cho con cái trở nên cứng rắn bằng cách từng bước hình thành ở trẻ các phẩm chất sau:

- Tự trọng.

- Tự chủ: Để trẻ tự làm những công việc vừa sức. Có thể lúc đầu trẻ sẽ thất bại, nhưng dần dần sẽ thành công.

Nên khuyến khích con cái coi những thay đổi là cơ hội để cố đổi mới. Cho chúng biết là cuộc sống liên tục thay đổi.

Sat 13 December 2008
 

Tiêu chảy và nôn mửa

Tiêu chảy và nôn mửa có thể do viêm dạ dày-ruột (virus gây ra) hoặc do ăn nhiều, ăn phải thực phẩm lạ. Hệ tiêu hóa trẻ sơ sinh đôi khi không chịu được lượng lớn nước trái cây, thậm chí cả sữa. Các em bé được nuôi bằng sữa mẹ ít khi bị tiêu chảy.

Viêm dạ dày-ruột thường bắt đầu bằng nôn mửa, sau đó là tiêu chảy (đôi khi sau 8-12 giờ hoặc lâu hơn). Đôi khi không có tiêu chảy.

Trẻ dưới 4 tuổi (nhất là dưới 6 tháng tuổi) cần được chăm sóc đặc biệt khi bị tiêu chảy hoặc nôn mửa vì chúng có thể nhanh chóng bị mất nước. Phải quan sát cẩn thận khi xuất hiện triệu chứng, cho uống thêm nước.

Chữa trị tại nhà

1. Với trẻ em từ 3 tháng tuổi tới 2 tuổi:

- Nếu em bé được nuôi bằng sữa mẹ, tiếp tục cho bú bằng sữa mẹ. Nếu đi tiêu chảy nặng hơn hoặc nôn mửa, bổ sung thêm nước để tránh mất nước.

- Nếu em bé được nuôi bằng sữa công thức, chuyển sang cho uống nước chống mất nước. Sau đó cho ăn sữa công thức lại từ từ trong 24 giờ. Ngày hôm sau cho ăn lượng sữa công thức như bình thường.

- Cho uống nước chống mất nước hoặc sữa mẹ từ 150 g tới 300 g nếu bị tiêu chảy nặng.

- Đối với trẻ em trên 6 tháng tuổi, có thể pha thêm một chút bột Nutrasweet hoặc Kool-Aid, Jell-O không đường vào nước chống mất nước.

- Không dùng nước uống cho thể thao, nước ép trái cây hoặc sô đa. Các nước uống này có chứa nhiều đường và không đủ muối khoáng (các chất điện ly) đã bị mất.

- Tránh việc chỉ dùng nước chống mất nước quá 12-24 giờ.  

- Sau 12-24 giờ, cho em bé ăn thực phẩm đặc nếu nó đã ăn được thực phẩm đặc. Cho em bé ăn những gì nó thích. Tránh thực phẩm có nhiều chất xơ (như rau đậu) và nhiều đường (như nước trái cây hoặc kem lạnh).

- Bảo vệ vùng mặc tã lót bằng ôxit kẽm hoặc các loại kem khác. Nổi mẩn do tã lót thường xảy ra sau khi tiêu chảy.

2. Với trẻ em 2 tuổi và lớn hơn:

- Cho uống nửa tách nước chống mất nước mỗi giờ. Cho uống từng ngụm nhỏ nếu đứa trẻ bị nôn mửa. Bổ sung thêm vị ngọt nếu cần.

- Các nước uống dùng trong thể thao có thể được sử dụng tạm thời nếu đi tiêu chảy nhẹ. Không cho uống nước trái cây hoặc sô đa.

- Cho ăn thức ăn dễ tiêu (bột ngũ cốc nấu chín, bánh mì, bánh quy giòn) để bổ sung vào nước uống tái hấp thụ. Bắt đầu chế độ ăn bình thường trong vòng một ngày hoặc hơn. Tránh việc chỉ dùng nước uống tái hấp thụ và chất bổ dưỡng quá 24 giờ.

Khi đứa trẻ khỏe hơn, lượng phân sẽ ít và sô lần đi tiêu giảm. Trong một số trường hợp, hiện tượng tiêu chảy, đi phân nước có thể kéo dài từ 4 tới 6 ngày. Cần theo dõi các triệu chứng mất nước. Bạn có thể chữa trị tại nhà chừng nào đứa trẻ hấp thụ đủ lượng chất lỏng và dinh dưỡng, sẽ đi tiêu với lượng nước bình thường và dường như thuyên giảm.

 

Cần đến y bác sĩ khi

- Nôn mửa xảy ra cùng với nhức đầu, buồn ngủ, hôn mê (không dễ đánh thức đứa trẻ dậy) hoặc cứng cổ (đứa trẻ có thể khóc lớn khi cổ bị lay động).

- Tiêu chảy có máu, phân đen hoặc màu đỏ sậm.

- Nước tiểu có máu hoặc có màu nước cô ca.

- Nôn ra máu.

- Có các dấu hiệu mất nước trầm trọng:

  + Hóp mắt, không có nước mắt, miệng và lưỡi khô.

  + Trong tám giờ đi tiểu ít hoặc không đi tiểu.

  + Có vết hóp xuống ở trên đầu đứa bé.

  + Da mềm nhão hoặc khi véo không đàn hồi trở lại.

  + Nhịp thở và nhịp tim nhanh.

  + Buồn ngủ, khó đánh thức, bơ phờ và hết sức khó chịu.

- Đứa trẻ đi tiêu chảy hoặc nôn mửa nhưng không chịu uống nước hoặc không thể uống đủ nước để bù đắp lượng nước đã mất.

- Nôn mửa nhiều (nôn hết cả đồ ăn và chất lỏng) xảy ra ở trẻ em dưới ba tháng. Ở trẻ lớn hơn, đi bác sĩ ngay nếu nôn mửa dữ dội liên tục:

  + Hơn 4 giờ ở trẻ em 3-12 tháng.

  + 8 giờ ở trẻ em 1-3 tuổi.

- Thỉnh thoảng nôn mà không có các triệu chứng khác. Đứa trẻ có thể duy trì được lượng nước giữa các lần ói mửa. Đi bác sĩ ngay nếu nó tiếp tục nôn nhiều hơn:

  + 1-2 ngày ở trẻ em dưới 3 tháng tuổi.

  + 2-4 ngày ở trẻ em 3-6 tháng.

  + 1-2 tuần ở trẻ em 6 tháng tới 3 tuổi.

- Tiêu chảy dữ dội (cứ 1-2 giờ lại đi phân lỏng) liên tục hơn:

  + 4 giờ ở trẻ em dưới 3 tháng.

  + 8 giờ ở trẻ em 3-6 tháng.

  + 1-2 ngày ở trẻ em từ 6 tháng tới 4 tuổi.

- Tiêu chảy nhẹ liên tục mà không có các nguyên nhân rõ ràng hoặc các triệu chứng khác kéo dài hơn:

  + 24 giờ ở trẻ em dưới 3 tháng.

  + 1-2 ngày ở trẻ em 3-6 tháng.

  + 4-7 ngày ở trẻ em 6 tháng tới 4 tuổi.

- Trẻ em sốt 39,4 độ C hoặc cao hơn, hay sốt thấp hơn kèm tiêu chảy hơn 2 ngày.

- Trẻ bị đau bụng dữ dội.

- Đau bụng kéo dài và thường nôn mửa hơn 12 giờ, kèm tiêu chảy nhẹ hoặc không tiêu chảy.

- Đau bụng bắt đầu vài giờ trước khi nôn mửa và dường như đau quặn bụng.

- Đau bụng không ở gần rốn, nhất là đau ở bụng dưới bên phải.

[ Last Page ] [ Page 2 of 14 ] [ Next Page ]