Game vui Đọc Truyện Hình ảnh đẹp Nâu ăn ngon Xem phim online Tin tức hàng ngày Nghe nhạc online Free flash games Phật giáo online Karaoke online Beauty Tips Game Sóc Yêu Flash game solo Game mới Từ điển Anh Viet Học ngoại ngữ Dich lời bài hát English test online Tiếng Anh ABC Rao vặt miễn phí Free Flash Games English test Kết quả xổ số Bóng đá livescore Tạp chí trẻ Tin tức hàng ngày Trò chơi thời trang Free Fonts Trò chơi Việt Vui MP3 Online Xem tử vi tướng số Baby Care Center Thiệp chúc mừng Chụp hình Hàn Quốc Hot girl photo Tấu hài vui nhộn Mang thai sinh đẻ Từ điển Việt Anh Bác sỹ gia đình Danh bạ web hay Web hay chon lọc Shock Tube
Fri 10 April 2009

"Neu ta vap ngã, dieu do cung khong sao.

Quan trong la biet cach dung len./."

 Let's try...try our best...!!!

*******************************************

10 lời khuyên dinh dưỡng cho người cao huyết áp

(Dân trí) - Sự chú trọng trong chế độ dinh dưỡng của người mắc huyết áp cao sẽ tác động rất lớn tới việc phòng tránh bệnh. Dưới đây là 10 lời khuyên dinh dưỡng bổ ích dành cho người cao huyết áp.
1. Hạn chế uống rượu

 

Người mắc bệnh huyết áp cao, nhất thiết phải biết tiết chế trước rượu: không nhiều hơn 3 ly (chén) rượu mỗi ngày đối với đàn ông và 2 ly (chén) với phụ nữ.

 

2. Không để cân nặng “vượt chuẩn”

 

Thừa cân là “kẻ thù” của tim và hệ huyết mạch. Khi cân nặng vượt quá trọng lượng cho phép đồng nghĩa với chứng cao huyết áp sẽ “ghé thăm”.

 

Vì thế, khi có dấu hiệu tăng cân đột ngột và dễ thừa cân, béo phì, bạn cần nhanh chóng cân bằng lại chế độ ăn uống của bản thân và luyện tập thể thao hợp lý.

 

3. “Cảnh giác” với muối ăn

 

Chắc chắn rằng các bác sĩ sẽ khuyên nên cảnh giác với lượng muối đưa vào cơ thể. Bởi lẽ, một người mắc bệnh huyết áp cao chỉ nên “nạp” nhiều nhất 6g muối mỗi ngày.

 

Vì thế, tránh để lọ muối ăn và gia vị trên bàn ăn. Ngoài chuyện nấu nướng các món ăn cho nhạt hơn, người cao huyết áp cũng nên tránh các đồ ăn được chế biến sẵn như: thịt xông khói, đồ ăn nhanh, một số đồ hộp… vì chúng rất nhiều natri (muối). Bên cạnh đó, người bệnh cũng nên “dè chừng” muối ăn có trong ngũ cốc của bữa sáng hay trong bánh quy.

 

4. “Kết bạn” với bơ thực vật

 

Nhất thiết phải “tẩy chay” các chất béo bão hoà trong thực đơn ăn uống và thay thế tối đa mỡ động vật bằng dầu thực vật. Người cao huyết áp cũng cần “từ biệt” bơ động vật và thay vào đó, sử dụng bơ thực vật (margarine).

 

5. “Cẩn thận” với thịt

 

Khi bị huyết áp cao, do phải hạn chế các chất béo bão hoà nên tốt nhất là chọn những loại thịt càng nạc càng tốt. Hạn chế thịt bò, thịt lợn và thịt cừu, nên chọn cá và thịt gia cầm (nhớ bỏ da).

 

6. “Thân thiện” với ngũ cốc nguyên vỏ lụa

 
Để đảm bảo nhu cầu tinh bột của cơ thể, người bị huyết áp cao nên tận dụng các loại ngũ cốc toàn phần. Bên cạnh hàm lượng tinh bột, ngũ cốc còn cung cấp một hàm lượng chất xơ đáng kể.

 

7. Chọn lựa phương thức nấu “an toàn”

 

Cần chọn những cách nấu ít chất béo nhất mà vẫn đảm bảo hàm lượng dinh dưỡng của đồ ăn. Tốt nhất, nên làm chín thức ăn bằng phương thức luộc, hấp hoặc nướng. Hạn chế và tránh chiên, xào đồ ăn.

 

8. “Chào đón” các đồ ăn ít béo

 

Nên chọn sữa đã được gạn kem, sữa chua không đường để sử dụng. Tốt nhất trong trường hợp có thể lựa chọn, nên nghiêng về những sản phẩm càng ít chất béo càng tốt.

 

9. Vận động

 

Các hình thức vận động cơ thể nhẹ nhàng rất cần thiết cho những người huyết áp cao. Nửa tiếng đi bộ nhanh mỗi ngày, đạp xe hay bơi lội là những hình thức vận động không hề quá sức chút nào!

 

10.  “Kết bạn” thường xuyên với rau quả

 

Ai cũng biết rằng hoa quả và rau xanh là những “đồng minh” của một sức khoẻ tốt. Vì thế, ta nên nạp đủ lượng rau xanh và hoa quả mỗi ngày cho cơ thể.

 

Đối với những người có huyết áp cao, nên bổ sung nhiều hoa quả chứa kali như hoa quả khô, chuối… vì kali là “người bạn tốt” của bệnh cao huyết áp.

 

Khiết Linh

Theo Doctissimo

Thu 15 January 2009
 

 

CÂY KIM CÓ THỂ CỨU SỐNG BỆNH NHÂN ĐỘT QUỴ

 

Các bạn thân mến,

 Rất có thể các bạn đã nhận được thông tin này rồi, nhưng biết thêm vẫn tốt...

 Hãy giữ một cây kim ( nhớ là thật sạch) ở trong nhà để làm điều này. Đây là một cách vô cùng kỳ diệu và độc đáo để cứu người bị đột quỵ. Hãy đọc thật kỹ biết đâu có ngày bạn sẽ có dịp sử dụng kiến thức này để cứu người.

 Bài viết này thật tuyệt. Hãy giữ nơi thuận lợi nhất. ( Tốt nhất là học thuộc và giữ nó trong đầu của bạn). Đây là các mẹo tuyệt hảo. Hãy bỏ ra một phút để đọc. Biết đâu có ngày hữu dụng. Mạng sống của ai đó có thể phụ thuộc vào bạn.

 " Cha tôi đã bị liệt và sau đó đã chết vì bị đột quỵ. Uớc gì mà tôi đã biết được cách sơ cứu này trước khi chuyện đau lòng ấy xảy ra. Khi bị bệnh nhân bị đột quỵ, các mạch máu não sẽ bị vỡ” (Irene Liu)

 Khi có người bị đột quỵ, hãy hết sức bình tĩnh. Cho dù bệnh nhân đang ở đâu, cũng không được di chuyển. Vì nếu bị di chuyển, các mạch máu não sẽ vỡ ra. Hãy giúp bệnh nhân ngồi tại chổ và giữ không cho bệnh nhân bị ngã, rồi bắt đầu chích cho máu chảy ra. Nếu bạn có sẵn một cây kim tiêm ở nhà thì tốt nhất, nếu không có kim tiêm, bạn có thể dùng kim may hoặc một cây kim thẳng.(Nhớ là phải rữa tay bạn thật sạch trước khi thực hiện các việc sau đây.)

1. Hơ kim trên lữa để khử trùng rồi dùng nó để chích mười đầu ngón tay.   

2. Không có các huyệt cụ thể, chỉ cần chích cách các móng tay 1mm.

3. Chích đến khi nào máu chảy ra.

4. Nếu máu không chảy ra được, hãy dùng ngón tay của bạn để nặn ra. 

5. Khi tất cả mười đầu ngón tay đều đã có máu chảy ra, hãy chờ vài phút, nạn nhân sẽ hồi tỉnh.

6. Nếu nạn nhân bị méo miệng, hãy kéo hai tai nạn nhân cho đến khi cả hai tai đều đỏ lên.

7. Sau đó, chích vào dái tai cho đến khi mỗi dái tai có chảy ra hai giọt máu. Sau vài phút nạn nhân sẽ hồi tĩnh.

 Chờ cho đến khi nạn nhân trở lại trạng thái bình thường không có một triệu chứng bất thường nào nữa thì mới chở nạn nhân vào bệnh viện vì nếu nạn nhân bị vội vàng chở đi  ngay đến bệnh viện bằng xe cấp cứu,  xe chạy bị xóc sẽ làm cho các mạch máu não của bệnh nhân vỡ tung  ra. Nếu nạn nhân có được cứu sống, ráng lắm mới đi lại được thì cũng do phước đức ông bà để lại mà thôi.

 " Tôi học được phương pháp cứu người bằng cách chích cho máu chảy ra từ Bác sĩ Ha Bu-Ting  ở Sun-Juke.  Hơn nữa tôi cũng đã từng có kinh nghiệm thực tế. Vì vậy tôi có thể nói phương pháp này hiệu quả đến 100%. Năm In 1979, tôi đang dạy tại trường Đại Học Fung-Gaap ở  Tai-Chung. Một ngày nọ tôi đang dạy ở trong lớp thì có một giáo viên khác chạy đến lớp tôi và nói trong hơi thở hổn hển:  "Cô  Liu ơi, mau lên, xếp bị đột quị rồi!"

 Tôi chạy ngay lên tầng 3. Khi tôi nhìn thấy xếp tôi, ông Chen Fu-Tien, thì ông ta da đã nhợt nhạt, nói ngọng ngiụ, miệng méo- tất cả các hiện tượng của chứng độ quỵ. Tôi  liền nhờ một học sinh đến một tiệm thuốc bên ngoài trường học mua một cây kim và dùng nó chich mười đầu ngón tay ông Chen Khi tất cả mười dầu ngón tay của ông ta đã chảy máu (mỗi ngón tay đều  chảy một giọt máu bằng hạt đậu), sau vài phút, khuôn mặt của ông Chen hồng hào trở lại và đôi mắt  cũng đã có thần trở lại. Nhưng miện ông ta vẫn còn méo. Thế là tôi kéo tai ông ta cho máu chảy đến tai. Khi tai ông ta đã đỏ, tôi liền chích dái tai phải của ông hai lần để nạn ra hai giọt máu. Khi cả hai tai đều đã được nặn máu, mỗi bên hai giọt, thì một điều kỳ diệu đã xãy ra. Trong vòng 3-5 phút, miệng ông ta đã trở lại hình dáng bình thường và giọng nói trở nên rõ ràng. Tôi để cho xếp tôi nghỉ ngơi một lát và uống một tách trà nóng, rồi tôi giúp ông đi xuống cầu thang và chở ông đến bện viện.

But his mouth was still crooked. So I pulled on his ears to Wei-Wah. Ông nghỉ tại bện viện một đêm và hôm sau đựoc xuất viện để trở về trường dạy học.

 Mọi việc xảy ra bình thường. Không hề có một tác động nào xấu để lại. Mặt khác, nạn nân đột quỵ thường phải chịu tình trạng mạch máu não bị vỡ  khó tránh khỏi tren đường đi đến bệnh viện. Kết quả là các nạn nhân này sẽ không bao giờ phục hồi được (Irene Liu)

 Vì vậy đột quỵ là nguyên nhân thứ hai của tử vong. Nhưng người may man có thể sẽ sống sót nhưng phải chịu bị liệt suốt đời. điều này thật là khủng khiếp. Nếu như tất cả chúng ta có thể nhớ phương pháp chích cho máu chảy ra và bắt đầu quá trình cứu người ngay tức khắc, chỉ trong một thời gian rất ngắn, nạn nhân đã có thể hồi sinh và trở lại bình thường   100% .

 Chúng tôi hi vọng rằng các bạn sẽ bày cho người khác phương pháp sơ cứu này. Bằng cách làm nhưi vậy, đột quỵ sẽ bị chuyển khỏi danh sách các nguyên nhân chính gây tử vong.

 Xin hãy chuyển tiếp cho người khác sau khi bạn đọc xong bài này. Đây là một việc làm rất tốt.

 Sự mạo hiểm lớn nhất là không dám làm gì cả. Hãy tạo ra một sự thay đổi!!

 ( Từ hơn hai mươi nam trước tôi đã chứng kiến mẹ chồng tôi dùng phương pháp này để cứu người. Thật ra khi đó tôi không hiểu lắm vì chỉ thấy bà thực hành việc chích máu trên đầu mười ngón tay  và hai dái của nạn nhân và làm cho nạ nhân tỉnh lại chứ không giải thích kỹ về lý thuyết. Nay đọc bài này bằng tiếng Anh tôi thấy chí tình chí lý và hiểu rõ thêm rất nhiều nên dịch lại cho nhiều người cùng đọc và áp dụng khi cần. ND: Nguyễn Thị Lân )

Sat 13 December 2008
 

Vitamin

Vitamin là chất kích thích chuyển hóa, tuy không cung cấp calory nhưng rất quan trọng đối với sức khỏe. Các phần tử vitamin trong thực phẩm rất nhỏ, không thể nhìn thấy bằng mắt thường.

Vitamin A, D, E và K hòa tan trong chất béo và có thể được dự trữ ở gan hoặc mô mỡ trong một thời gian tương đối dài. Các vitamin khác hòa tan trong nước và cơ thể, chỉ được duy trì trong thời gian ngắn. Chúng gồm: thiamine, riboflavin, niacin, axit pantothenic, biotin, axit folic, B6, B12, C.

Đối với hầu hết mọi người, chế độ ăn gồm nhiều thực phẩm khác nhau theo tháp dinh dưỡng sẽ cung cấp tất cả vitamin cần thiết cho sức khỏe. Nếu ăn dưới 1.500 calory mỗi ngày, cần xem xét để giảm lượng vitamin và muối khoáng.

Chất khoáng

Chất khoáng giúp điều tiết cân bằng nước của cơ thể, cung cấp cấu trúc, thực hiện chức năng làm thành phần của tuyến nội tiết, enzym và vitamin. Cơ thể duy trì sự cân bằng chất khoáng một cách rất tinh vi để bảo đảm cho các hệ thống hoạt động chính xác. Ăn nhiều loại thực phẩm là cách tốt nhất để có đủ chất khoáng cần thiết. Có khoảng 60 loại chất khoáng được tìm thấy trong cơ thể.

Canxi

Canxi là chất khoáng chủ yếu để cấu tạo và duy trì xương, đặc biệt cần thiết cho sự phát triển của trẻ em và phụ nữ, nhất là ở những độ tuổi đang có sự phát triển về xương (10-30 tuổi). Can xi còn giúp phụ nữ tránh bệnh loãng xương, thường xảy ra ở tuổi mãn kinh. Nhu cầu về canxi mỗi ngày:

- Trẻ em từ 1 tới 10 tuổi: 800 mg.

- Thanh thiếu niên: 1.200 mg.

- Người trên 25 tuổi: 800 mg.

- Phụ nữ mãn kinh: 1.200 mg.

Một ly sữa không béo có khoảng 313 mg canxi; sữa chua không béo hoặc ít béo có khoảng 442 mg canxi mỗi ly. Các thực phẩm khác có lượng canxi cao là cải brocoli, rau xanh, đậu hạt và pho mát ít béo.

Chế độ ăn bổ sung canxi thích hợp có thể giúp duy trì xương khỏe mạnh. Viên cacbonat canxi (Tum) 500 mg cung cấp khoảng 200 mg canxi. Việc uống một vài viên Tum mỗi ngày có thể đáp ứng đủ nhu cầu canxi của người lớn, nhưng không thể thay thế được canxi tự nhiên.

Muối natri

Muối ăn là nguồn phổ biến nhất cung cấp natri. Natri còn có ở trong các thực phẩm không có vị mặn, chẳng hạn như pho mát và các thực phẩm được chế biến. Natri còn là thành phần chính của mì chính và bột sô đa.

Trong chúng ta, phần lớn bị thừa natri. Cơ thể chỉ cần 500 mg natri mỗi ngày. Việc dùng natri quá mức giới hạn sẽ gây ra huyết áp cao. Cách giảm lượng natri trong chế độ ăn:

- Hạn chế dùng nước sốt trộn sẵn và các nước chấm, đồ ăn nguội, súp đóng hộp, rau trộn vì chúng thường được nêm nhiều muối. Dùng các sản phẩm trên nhãn có ghi “low sodium” (chứa dưới 140 mg natri trong mỗi khẩu phần).

- Ăn nhiều trái cây tươi và để lạnh. Các thực phẩm này có rất ít natri.

- Chỉ dùng một ít muối ăn trong nấu nướng.

- Luôn luôn định lượng phần trăm muối trong công thức và chỉ dùng phân nửa của công thức đó.

Sat 13 December 2008
 

Xương, cơ và các vấn đề về khớp

Chứng viêm khớp

Chứng viêm khớp làm đau nhức, sưng tấy và xơ cứng, có thể xảy ra ở bất kỳ tuổi nào, nhưng có ảnh hưởng nhiều nhất đến người lớn tuổi.

Có trên 100 loại viêm khớp, mỗi loại có các triệu chứng riêng. Người ta ít biết đến nguyên nhân gây ra phần lớn các loại viêm khớp. Một số chứng viêm khớp có nhiều gia đình bị mắc phải; một số khác dường như chỉ liên quan đến sự mất căng bằng về hóa chất của cơ thể hoặc hệ thống miễn dịch.

Viêm khớp xương là loại viêm khớp phổ biến nhất, thường có thể chữa trị thành công tại nhà. Viêm khớp mạn tính (thấp khớp) và bệnh gút sẽ thuyên giảm nếu được kết hợp giữa tự chăm sóc và chăm sóc của giới chuyên môn.

Phòng tránh

Không thể phòng tránh chứng viêm khớp; nhưng bạn có thể phòng tránh ảnh hưởng của sự đau nhức do viêm khớp tới các khớp xương của bạn. Sau đây là các yếu tố rất cần thiết nếu bạn đã bị chứng viêm khớp :

- Thay đổi cách sinh hoạt gây ra sự khó chịu, chẳng hạn như tập aerobic có tác động mạnh, giảm các sinh hoạt có tác động nếu chúng gây ra đau nhức.

- Kiểm soát trọng lượng của cơ thể.

- Tập thể dục thường xuyên.

Dù các sinh hoạt gây ra khó chịu có thể làm tăng đau nhức khớp, nhưng việc tập thể dục thường xuyên có thể làm giảm bớt và phòng tránh nó. Tập thể dục giúp nuôi dưỡng khớp sụn và loại thải các chất cặn bã. Nó còn tăng cường sức dẻo dai của cơ chung quanh khớp. Những cơ khỏe mạnh nâng đỡ khớp và làm giảm các tổn thương do công việc nặng nhọc gây ra, kéo dài thời gian không bị đau nhức.

Chữa trị tại nhà

- Tắm nước ấm vào buổi sáng để làm giảm xơ cứng. Tránh ngồi yên sau khi tắm nước ấm.

- Nếu khớp không sưng, chườm nước nóng ở khớp, mỗi ngày hai hoặc ba lần. Không chườm vào chỗ khớp bị sưng, viêm.

- Mỗi ngày vận động toàn bộ khớp nhẹ nhàng 1-2 lần.

- Để yên các khớp bị đau nhức. Tránh các hoạt động ảnh hưởng tới các khớp đó trong một vài ngày. Thường xuyên nghỉ giải lao trong các công việc hằng ngày.

- Chườm túi đá lạnh vào các khớp bị viêm và sưng tấy, mỗi giờ một lần (10-15 phút). Cái lạnh sẽ giúp làm giảm đau và viêm (dù có thể cảm thấy không dễ chịu trong ít phút đầu).

- Tập thể dục thường xuyên để duy trì sự dẻo dai, khỏe mạnh của các cơ và khớp. Các bài tập tăng cường sức dẻo dai sẽ tránh trường hợp cơ bị suy yếu, dẫn đến mất chức năng. Giảm các hoạt động có ảnh hưởng như bơi lội, aerobic, đạp xe đạp hoặc đi bộ.

- Thuốc acetaminophen có thể thể làm giảm đau an toàn đối với chứng viêm khớp. Aspirin, ibuproxen, hoặc orudis cũng có thể làm giảm đau nhưng có thể gây rối loạn dạ dày. Không sử dụng thuốc kháng viêm (aspirin, ibuprofen, naproxen...) cùng với nhau.

Cần đến y bác sĩ khi

- Bị sốt hoặc da nổi mẩn đỏ cùng với đau khớp nặng.

- Khớp đau đến nỗi không thể cử động được.

- Sưng, tấy đỏ hoặc đau ở bất kỳ khớp nào một cách đột ngột và không biết rõ nguyên nhân.

- Đau kịch liệt và sưng tấy ở nhiều khớp.

- Đau lưng đột ngột cùng với hai chân bị yếu hoặc mất khả năng kiểm soát đường ruột và bàng quang.

- Đau khớp liên tục trên 6 tuần và chữa trị tại nhà không thuyên giảm.

- Bị phản ứng phụ do aspirin hoặc các thuốc trị viêm khớp khác (đau dạ dày, buồn nôn, ợ chua liên tục hoặc phân có màu đen).

Sat 13 December 2008
 

Viêm xoang

Viêm xoang là chứng viêm hoặc nhiễm trùng ở xoang. Bệnh viêm xoang có thể theo sau bệnh cảm lạnh và thường kết hợp với dị ứng bụi cỏ khô, hen suyễn hoặc ô nhiễm không khí gây viêm. Nó có thể xảy ra ở trẻ sơ sinh và trẻ em nhưng phổ biến hơn ở người lớn.

Triệu chứng quan trọng nhất của viêm xoang ác tính ở người lớn là đau ở hai xương gò má và hàm răng trên, ở trán (trên lông mày) hoặc chung quanh và đằng sau mắt. Ở trẻ em, ngạt mũi mạn tính là triệu chứng điển hình; có thể còn bị nhức đầu, sốt (nếu xoang bị nhiễm trùng) hoặc có chất nhầy chảy xuống cuống họng. Đau họng và ho thường thấy cả ở viêm xoang ác tính và mạn tính. Nhức đầu do viêm xoang có thể xảy ra vào buổi sáng và nặng hơn vào buổi chiều hoặc khi cúi xuống. Nếu bị nhiễm trùng, cần phải sử dụng thuốc kháng sinh.

Phòng tránh

- Điều trị cảm lạnh ngay.

- Hỉ mũi nhẹ. Đừng bịt một lỗ khi hỉ mũi.

- Uống nhiều nước khi bị cảm lạnh để làm cho chất nhầy loãng và dễ thông.

- Bỏ hút thuốc. Người hút thuốc có nguy cơ bị viêm xoang cao hơn.

Chữa trị tại nhà

Các triệu chứng ngạt mũi và cảm giác nặng mặt thường xảy ra cùng với cảm lạnh. Việc chữa trị tại nhà thường làm cho xoang thông dẫn bình thường trở lại.

- Uống nhiều nước để làm cho chất nhầy loãng. Cứ mỗi giờ khi thức, uống một ly nước hoặc nước ép trái cây.

- Hít thở không khí ẩm, tắm vòi sen nước nóng hoặc ngâm mình bằng nước nóng.

- Tăng độ ẩm trong nhà, nhất là phòng ngủ.

- Dùng thuốc thông mũi, bình xịt thông mũi hoặc sử dụng thuốc làm loãng chất nhầy. Không dùng bình xịt mũi hơn ba ngày. Tránh các thuốc chứa chất chống dị ứng (kháng histamin).

- Uống aspirin, acetaminophen hoặc ibuprofen để trị nhức đầu.

- Chăm sóc cuống họng bằng thuốc nhỏ họng và súc miệng bằng nước ấm để tránh viêm họng.

- Nâng cao đầu vào ban đêm.

- Súc rửa bằng nước muối (saline) để rửa sạch chất nhầy và vi khuẩn khỏi mũi. Dùng bình xịt mũi saline hoặc dung dịch tự làm ở nhà (dùng ống bóp và bơm nhẹ dung dịch đó vào mũi, hoặc hít dung dịch từ lòng bàn tay bằng một lỗ mũi).

- Hỉ mũi nhẹ mỗi ngày hai tới bốn lần.

Cần đến y bác sĩ khi

- Các triệu chứng cảm lạnh kéo dài hơn 10-14 ngày hoặc ngày càng nặng.

- Bị nhức đầu dữ dội, khác với nhức đầu “thông thường” mà không thuyên giảm sau khi dùng thuốc acetaminophen, aspirin hoặc ibuprofen.

- Bị sưng mặt hơn hoặc nhìn bị mờ hay thị giác bị biến đổi.

- Chất nhầy mũi đổi từ trong thành có màu (vàng hoặc xanh) sau 5-7 ngày bị cảm lạnh; các triệu chứng khác (như đau xoang hoặc sốt) ngày càng nặng. Nếu chất nhầy mũi có màu từ lúc bắt đầu bị cảm lạnh, hãy đi bác sĩ nếu nó kéo dài hơn 7-10 ngày.

- Đau mặt (nhất là vùng xoang hoặc dọc theo chóp mũi và mí dưới) dai dẳng sau 2-4 ngày chữa trị tại nhà. Nếu bạn còn bị sốt và chất nhầy mũi có màu, hãy đi bác sĩ hai ngày một lần.

- Các triệu chứng viêm xoang dai dẳng sau khi bạn đã dùng nhiều thuốc kháng sinh.

Sat 13 December 2008
 

Viêm túi hoạt dịch và viêm gân

Túi hoạt dịch (bursa) là một túi chất lỏng nhỏ giúp các cơ chuyển động nhẹ nhàng trên các cơ hoặc xương khác. Nếu bị thương hoặc khớp vận động quá nhiều, tình trạng viêm túi hoạt dịch sẽ có thể xảy ra. Viêm túi hoạt dịch thường phát triển nhanh, chỉ trong vài ngày.

Các gân dẻo dai, giống như các sợi dây thừng nối các cơ với xương. Các tổn thương hoặc sự vận động quá mức có thể gây đau nhức, bệnh nhân cảm thấy đau khi đụng chạm các mô ở chung quanh chúng. Cả viêm túi hoạt dịch và viêm gân (tendinitis) đều có thể liên quan đến công việc, chơi thể thao hoặc các vận động xoay chuyển cơ thể, các thao tác khớp xương nhanh.

Viêm túi hoạt dịch và viêm gân có thể xảy ra ở nhiều nơi trong cơ thể và có thể cùng xảy ra. Việc chữa trị tại nhà có tác dụng đối với cả hai vấn đề này.

Phòng tránh

Làm nóng cơ thể và tập thể dục thường xuyên có thể giúp tránh được viêm túi hoạt dịch hoặc viêm cơ. Nên làm nóng thích hợp trước khi tập thể dục và tăng vận động gân cốt lên từ từ.

Chữa trị tại nhà

Viêm túi hoạt dịch hoặc viêm gân thường sẽ hết hoặc giảm bớt trong một vài ngày hoặc một tuần nếu bạn tránh các hoạt động gây tổn thương nó. Khi hết đau nhức, bạn thường dễ nhầm lẫn, cho là đã khỏi. Tuy nhiên, chứng viêm túi hoạt dịch hoặc viêm gân sẽ tái phát nếu bạn không thực hiện các bước để tăng cường, kéo giãn các cơ chung quanh khớp và thay đổi cách sinh hoạt.

- Để yên vùng bị viêm. Từ bỏ cách sinh hoạt gây ra đau nhức, duy trì thể hình phù hợp, giảm các hoạt động để không gây căng thẳng cho vùng bị viêm.

- Ngay khi thấy bị đau nhức, nên chườm đá hoặc túi đá lạnh trong 10 phút mỗi giờ hoặc chườm trong 72 giờ. Tiếp tục chườm đá (15- 20 phút/lần, ngày ba lần) chừng nào biện pháp này còn làm giảm đau nhức. Dù các túi chườm nóng hoặc tắm nước nóng có thể khiến bạn cảm thấy hiệu nghiệm, nhưng đá lạnh hoặc túi đá lạnh mới làm giảm viêm và mau lành.

- Thuốc aspirin, ibuprofen hoặc naproxen có thể làm bớt đau và viêm, nhưng không sử dụng thuốc giảm đau khi bạn vẫn tiếp tục vận dụng khớp nhiều.

- Cử động khớp nhẹ nhàng ở mức độ tối đa bạn có thể thực hiện mà không bị đau, làm mỗi ngày nhiều lần để tránh bị xơ cứng. Khi giảm đau, tiếp tục vận động và tập thể dục để tăng cường các cơ có ảnh hưởng.

- Làm nóng trước khi vận động và co giãn sau khi làm việc. Chườm đá lạnh vùng bị thương sau khi tập thể dục để tránh đau nhức hoặc sưng.

- Bắt đầu hoạt động ít và tăng dần, chỉ vận động khi đau nhức không tái phát.

 

Đau cổ tay có thể do viêm gân. Dù nó không giống như hội chứng dọc xương cổ tay, nhưng có thể chăm sóc tại nhà bằng các biện pháp tương tự.

Chứng đau khuỷu tay thường xuất hiện do một trong các loại viêm gân thông thường ở các cơ và gân của cánh tay. Mặt trong và ngoài của khuỷu tay được xác định bằng cách giữ cánh tay ở bên mình với lòng bàn tay quay về đằng trước.

Người chơi tennis có thể đau nhức khuỷu tay bên ngoài, nơi có các cơ co cổ tay xuống. Người chơi gôn có thể đau nhức ở khuỷu tay bên trong, nơi có các cơ gập cổ tay lên. Để chữa trị đau cổ tay, bệnh nhân cần:

- Tăng cường sức mạnh các cơ ở cổ tay, cánh tay, vai và lưng để giúp bảo vệ khuỷu tay.

- Đeo băng để làm giảm đau.

- Dùng các dụng cụ có tay cầm lớn hơn.

- Sử dụng hai tay để đánh bóng tennis sang trái, dùng vợt có kích cỡ trung bình và dẻo hơn.

- Tránh vấp ngã ở sân gôn.

- Tránh đánh bóng sát người và đánh bóng bổng.

- Dùng băng đeo để đỡ khuỷu tay bị đau trong một tới hai ngày. Tránh để xơ cứng, không sử dụng băng đeo hơn hai ngày và tập thể dục hàng ngày.

Đau vai

Xảy ra ở mặt ngoài của phía trên cánh tay, thường do viêm gân hoặc viêm túi hoạt dịch ở khớp vai. Đau ở trên vai hoặc ở cổ thường do viêm gân ở các cơ bả vai chạy từ sau gáy qua sau hai vai. Bệnh nhân cần:

- Sử dụng kỹ thuật thích hợp để ném bóng bầu dục và bóng chày.

- Sử dụng kiểu bơi ngửa hoặc bơi nghiêng thay cho bơi bướm và bơi sải.

- Để tránh xơ cứng, không nên để yên vai bị đau bằng băng đeo quá hai ngày.

- Giữ khuỷu tay ở bên người, không đưa ra phía trước.

- Tập thể dục hằng ngày.

Đau hông

Xảy ra khi đứng lên khỏi ghế, khi đặt các bước đầu tiên lên cầu thang hoặc khi lái xe. Nếu nặng, bệnh nhân ngủ nghiêng cũng có thể bị đau. Tuy nhiên, hiện tượng đau phía trước hông cũng có thể do viêm khớp.

- Mang giày mềm và không cao gót.

- Tập lên xuống cầu thang bằng cách dùng chân mạnh trụ trước cho tới khi hết đau.

- Tránh các hoạt động khiến một bên xương chậu cao hơn bên kia, chẳng hạn như chạy theo một hướng hoặc hoạt động nghiêng sang một bên. Giữ khung xương chậu thăng bằng.

- Ngủ nằm nghiêng sang bên, chèn gối vào giữa hai đầu gối; hoặc ngủ nằm ngửa và kê gối ở dưới hai đầu gối.

- Vận động sau khi làm việc, khi các cơ của bạn được làm nóng.

Đau đầu gối Có thể do viêm túi hoạt dịch hoặc viêm gân. Đau gót hoặc chân có thể do viêm dải cơ chân hoặc viêm gân gót chân. Đau nhức ở phía trước chân dưới có thể do đau xương ống chân.

Cần đến y bác sĩ khi

- Sốt, sưng nhanh, tấy đỏ hoặc không cử động được khớp.

- Đau kịch liệt mà không phải do tổn thương hoặc vận động.

- Vẫn còn đau nhức trong hai tuần hoặc hơn dù đã được chữa trị tại nhà.

Sat 13 December 2008
 

Viêm tấy ngón chân cái và ngón chân quặp

Viêm tấy ngón chân cái (bunions) là tình trạng sưng tấy túi hoạt dịch ở bên dưới ngón chân cái, khiến nó có thể bị quẹo hoặc đè sang các ngón chân khác. Ngón chân quặp (hammertoes) là ngón chân bị quặp xuống vĩnh viễn ở khớp giữa. Cả hai trường hợp này thường làm cho bệnh nhân khó đi giày do quá ngắn hoặc quá hẹp. Các vấn đề này đôi khi xảy ra ở gia đình.

Phòng tránh

 Đi giày không gót (hoặc có gót thấp) và có rộng chỗ cho ngón chân cái. Tốt nhất là dùng giày chơi tennis hoặc bóng chày. Giày cao gót làm tăng thêm rủi ro bị viêm khớp ngón chân cái và ngón chân bị quặp.

Chữa trị tại nhà

Khi đã bị viêm tấy ngón chân cái hoặc ngón chân bị quặp thì thường không có cách nào để chữa lành hoàn toàn. Việc chữa trị tại nhà chỉ giúp tránh bị rủi ro thêm.

- Đi giày gót thấp, rộng để đỡ mũi giày.

- Dùng nệm bằng vải nhung hoặc đệm xỏ ngón tay để tránh ngón cái bị viêm tấy hoặc ngón quặp bị chà xát và khó chịu.

- Dùng dép và sandal.

- Dùng thuốc aspirin, ibuprofen hoặc acetaminophen để làm dịu cơn đau. Chườm đá hoặc túi đá lạnh cũng có thể có tác dụng.

Cần đến y bác sĩ khi

- Đột ngột bị đau kịch liệt ở ngón chân cái mà không bị chẩn đoán là bị bệnh gút.

- Đau nhiều làm cản trở công việc hằng ngày và đi lại.

- Ngón chân cái bắt đầu chồng sang ngón chân thứ hai.

- Bị bệnh tiểu đường, tuần hoàn máu kém hoặc bệnh mạch ngoài biên.

- Da ngón chân cái bị viêm tấy hoặc ngón bị quặp bị tấy lên, có thể bị nhiễm trùng.

- Việc chữa trị tại nhà không làm thuyên giảm đau nhức trong hai tới ba tuần.

Sat 13 December 2008
 

Viêm tai ngoài

Viêm tai ngoài do nhiễm trùng lỗ tai bên ngoài gây ra. Nó thường phát triển sau khi bị nước vào tai. Cát hoặc các mảnh vụn khác khi vào tai cũng có thể gây ra viêm tai ngoài. Gãi tai, ngoáy tai cũng có thể gây tổn thương và làm sưng tấy lỗ tai. Các triệu chứng gồm đau, ngứa và cảm thấy nặng tai. Lỗ tai có thể bị sưng lên. Nếu viêm nặng, bệnh nhân đau tai dữ dội, chảy mủ lỗ tai và có thể nghe không rõ. Cảm giác đau nặng hơn khi nhai, khi ấn mống tai ở phía trước hoặc khi lắc vành tai.

Phòng tránh

- Giữ tai khô: Sau khi bơi hoặc tắm, lắc tai để cho nước chảy ra khỏi tai. Dùng giấy lụa mỏng hoặc khăn (quấn hoặc gấp có góc nhỏ) để lau; dùng máy sấy để thổi (phải cách tai khoảng 5 cm).

- Nhỏ vài giọt cồn xoa bóp (có thể pha với giấm trắng) vào tai sau khi bơi hoặc tắm. Lắc vành tai bên ngoài để cho nước vào lỗ tai; rồi nghiêng đầu để cho nó chảy ra. Cũng có thể dùng thuốc nhỏ tai (Star-Otic, Swim-Ear) có bán ở hiệu thuốc.

- Tránh ngoáy tai bằng bông gạc hoặc các vật khác. Lấy bụi hoặc cát vào tai khi tắm bằng cách dùng ống bóp hút; hoặc nhỏ nước ấm trực tiếp vào tai, rồi nghiêng đầu để cho nó chảy ra.

Chữa trị tại nhà

- Súc rửa tai nhẹ nhàng bằng ống bóp hút với dung dịch saline hoặc phân nửa dung dịch giấm trắng với nước ấm.

- Tránh để nước vào tai cho tới khi tai hết bị tấy rát. Dùng bông bôi vazơlin bên ngoài để làm nút bịt lỗ tai. Không dùng nút bịt lỗ tai bằng chất dẻo.

- Nếu tai bị ngứa, thử nhỏ thuốc nhỏ tai. Dùng thuốc nhỏ tai trước và sau khi bơi lội hoặc khi tai bị ướt.

- Nhỏ thuốc vào tai ở tư thế nằm và ngước tai lên. Trước đó, cần làm hộp thuốc nhỏ tai ấm lên bằng cách lăn tròn nó giữa hai bàn tay. Nhỏ vào thành của lỗ tai vài giọt nhỏ để không khí có thể thoát ra và thuốc nhỏ có thể vào trong tai. Lắc vành tai bên ngoài.

- Nhỏ thuốc tai cho em bé bằng cách ôm bé vào lòng, để hai chân bé quàng quanh eo của mình và đầu bé nằm trên hai đầu gối.

- Làm nóng vành tai bên ngoài bằng khăn ấm để làm cho dịu cơn đau. Dùng thuốc acetaminophen hoặc aspirin cũng có tác dụng này. Không cho trẻ em dưới 20 tuổi uống aspirin.

Cần đến y bác sĩ khi

- Đau tai và ngứa tai kéo dài hoặc nặng thêm dù đã được chữa trị tại nhà sau 5 ngày.

- Lỗ tai bị sưng, tấy đỏ và đau dữ dội hoặc nếu có mủ.

- Tấy đỏ lan rộng ra tai ngoài.

- Nhức tai sau khi cảm lạnh.

Sat 13 December 2008
 

Viêm phế quản

Đây là chứng viêm và tấy rát cuống phổi, thường do virus hoặc vi khuẩn gây ra, cũng có thể do hút thuốc hoặc ô nhiễm không khí. Nó thường xảy ra sau khi bị cảm lạnh hoặc nhiễm trùng đường hô hấp mà không được chữa trị hoàn toàn.

Phế quản bị viêm sẽ tiết ra đờm, gây trở ngại cho các mao quản ở đây. Ho là phản ứng để cố loại thải đờm ra. Bệnh nhân cảm thấy khó chịu hoặc tắc nghẽn ở ngực, mệt mỏi, sốt thấp, đau họng, chảy nước mũi và đôi khi thở khò khè. Các trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến viêm phổi.

Chứng viêm phế quản có thể trở thành mạn tính, nhất là với những người hút thuốc hoặc làm việc trong môi trường ô nhiễm không khí. Khoảng 75% người bị viêm phế quản mạn tính là những người nghiện thuốc.

Viêm phế quản có thể xảy ra cùng với khí thủng (emphysema) hoặc hen mạn tính. Sự kết hợp của các tình trạng này được gọi là bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD).

Phòng tránh

- Chăm sóc đúng cách để theo dõi các vấn đề hô hấp, chẳng hạn như cảm lạnh và cúm.

- Bỏ hút thuốc. Người hút thuốc và người sống với họ thường dễ bị viêm phế quản.

- Tránh không khí ô nhiễm.

Chữa trị tại nhà

- Uống nhiều nước, 8-12 ly mỗi ngày (cho tới khi thấy đi tiểu nhiều hơn bình thường). Chất lỏng giúp làm loãng đờm ở hai phổi, dễ tống nó ra khi ho.

- Bỏ hút thuốc và tránh người hút thuốc.

- Hít thở không khí ẩm, tắm nước nóng. Hơi nóng và ẩm giúp làm loãng đờm.

- Nghỉ ngơi nhiều để lấy lại sinh lực giúp mau lành bệnh.

- Nhờ người khác xoa bóp vùng ngực và các cơ lưng. Xoa bóp làm giảm đau cơ ngực và thư giãn.

- Dùng thuốc aspirin, ibuprofen hoặc acetaminophen để giảm sốt và đau nhức mình. Không cho trẻ em dưới 20 tuổi uống aspirin.

- Nếu ho khan, không có đờm dùng siro chứa dextromethorphan và guaifenesin. Tránh dùng thuốc có công thức pha trộn.

Cần đến y bác sĩ khi

- Sốt cao, đã chữa trị tại nhà 2 giờ mà không thuyên giảm.

- Sốt cao kèm theo ớn lạnh, ho có đờm.

- Sốt dai dẳng.  

- Nghi ngờ bị cảm cúm.

- Thở nhanh, nông, mệt cùng với thở dốc.

- Đờm có màu vàng, xanh, màu gỉ sắt hoặc có máu và các triệu chứng khác (sốt, ho có đờm, mệt mỏi rã rời) gia tăng. Đờm ho ra từ phổi nghiêm trọng hơn chất nhầy chảy ra từ sau họng.

- Ho kéo dài hơn 7-10 ngày sau khi các triệu chứng khác đã rõ ràng, nhất là nếu ho có đờm. Ho khan có thể kéo dài nhiều tuần lễ sau khi bị bệnh do virus, chẳng hạn như cảm lạnh.

- Người bệnh là trẻ sơ sinh, người lớn tuổi hoặc người có bệnh mạn tính, nhất là các vấn đề liên quan đến phổi.

Sat 13 December 2008
 

Viêm loét

Viêm loét là hiện tượng sưng hoặc loét ở niêm mạc đường tiêu hóa, thường xuất hiện ở dạ dày hoặc tá tràng (phần trên của ruột non). Viêm loét phát triển khi niêm mạc bảo vệ đường tiêu hóa bị tổn thương, khiến dịch vị và enzym ăn mòn vách dạ dày hoặc tá tràng. Các yếu tố làm tăng nguy cơ viêm loét gồm:

- Hay sử dụng thuốc aspirin, ibuprofen và các thuốc kháng viêm không có chất steroid (như indomethancin, naproxen, clinoril...).

- Hút thuốc.

- Nhiễm trùng Helicobacterpylori.

Những triệu chứng viêm loét có thể là đau rát hoặc đau nhói ở vùng bụng, giữa rốn và đầu xương ức. Cơn đau thường xảy ra giữa các bữa ăn và có thể đánh thức bạn dậy vào ban đêm. Cơn đau có thể giảm bớt nếu bệnh nhân ăn hoặc uống một chất làm giảm nồng độ axit dạ dày.

Viêm loét cũng có thể gây ợ chua, buồn nôn hoặc nôn mửa, khiến bệnh nhân cảm thấy chướng, đầy bụng khi ăn và sau khi ăn. Viêm loét có thể làm chảy máu ở dạ dày (đi tiêu phân có màu đỏ thẫm hoặc đen). Nếu không được điều trị, viêm loét có thể làm thủng thành dạ dày. Xuất huyết và thủng dạ dày là các tình huống nguy hiểm phải được chữa trị ngay.

* Chữa trị tại nhà

- Tránh bia, rượu, caffein và các thực phẩm có các gia vị. Cần tránh sữa và các sản phẩm từ sữa vì chúng làm lâu lành vết thương.

- Ăn ít đi, ăn thành nhiều lần hơn. Nếu không mang lại kết quả, hãy trở lại chế độ ăn bình thường.

- Bỏ hút thuốc. Việc hút thuốc có thể làm tăng gấp đôi nguy cơ viêm loét dạ dày - ruột so với người không hút thuốc. Hút thuốc cũng làm lâu lành vết thương.

- Không dùng thuốc aspirin, ibuprofen hoặc naproxen. Thay thế bằng thuốc acetaminophen.

- Dùng thuốc làm giảm nồng độ axit dạ dày để làm cho viêm loét mau lành. Liều lượng do bác sĩ chỉ định, thường phải sử dụng liều cao. Các thuốc giảm nồng độ axit không có thẩm thấu như Maalox, Mylanta và Gelusil rất tốt. Nếu bạn kiêng mặn, phải xin ý kiến của bác sĩ và dược sĩ khi chọn thuốc giảm nồng độ axit dạ dày vì một số thuốc này hàm lượng muối cao.

- Tình trạng căng thẳng có thể làm lâu lành vết thương, vì vậy nên tập phương pháp thư giãn.

* Cần đến y bác sĩ khi

- Đau và thở dốc, hoặc có các dấu hiệu chứng tỏ có các vấn đề về tim.

- Đau cục bộ ở bụng.

- Đau dồn ở bên phải bụng dưới cùng với nôn mửa và sốt.

- Phân có màu đỏ thẫm, đen hoặc màu hắc ín (có nghĩa là bị chảy máu đường tiêu hóa). Viêm loét là một trong nhiều nguyên nhân có thể gây ra tình trạng này.

- Viêm loét gia tăng đột ngột, gây đau bụng kịch liệt.

- Nghi ngờ bị viêm loét; các triệu chứng không được cải thiện sau hai tuần chữa trị tại nhà.

Bác sĩ có thể chẩn đoán các triệu chứng và kê đơn điều trị, trong đó có thể có thuốc trung hòa nồng độ axit dạ dày hoặc các thuốc khác. Bệnh nhân phải có ý kiến của y bác sĩ khi dùng các loại thuốc kháng viêm.

[ Last Page ] [ Page 1 of 14 ] [ Next Page ]