Game vui Đọc Truyện Hình ảnh đẹp Nâu ăn ngon Xem phim online Tin tức hàng ngày Nghe nhạc online Free flash games Phật giáo online Karaoke online Beauty Tips Game Sóc Yêu Flash game solo Game mới Từ điển Anh Viet Học ngoại ngữ Dich lời bài hát English test online Tiếng Anh ABC Rao vặt miễn phí Free Flash Games English test Kết quả xổ số Bóng đá livescore Tạp chí trẻ Tin tức hàng ngày Trò chơi thời trang Free Fonts Trò chơi Việt Vui MP3 Online Xem tử vi tướng số Baby Care Center Thiệp chúc mừng Chụp hình Hàn Quốc Hot girl photo Tấu hài vui nhộn Mang thai sinh đẻ Từ điển Việt Anh Bác sỹ gia đình Danh bạ web hay Web hay chon lọc Shock Tube
Tue 3 February 2009
 

Quy y Tam Bảo 

HT. Thích Thiện Hoa 

(Trích từ Phật Học Phổ Thông) 

 

MỞ ĐỀ:

Cảnh giới Ta Bà của chúng ta là một cảnh giới đầy mê mờ và dục vọng. Chúng ta đang lặn hụp trong bể nước mắt của đau khổ và bùn nhơ của dục vọng, sống trôi lăn trong cảnh ấy, chúng ta khó thấy được bến bờ sáng sủa, yên ổn để lội vào. Thật là đáng thương cho thân phận con người chúng ta.

Nhưng bản nguyện chúng ta đâu có thế ! Chúng ta, từ vô thỉ, ở nơi nguồn chơn vắng lặng, sáng suốt vô cùng. Vì một niệm bất giác, khởi vô minh vọng tưởng, nên chúng ta bị quay cuồng trong sanh tử, trôi nổi trong ba cõi sáu đường.

Vậy thì trong chúng ta, ai là người không muốn thoát ra khỏi cõi đen tối, sầu đau này, để được trở về nguồn trong sáng, an vui?

Nhưng làm sao để thoát ra được? Ai sẽ là kẻ rũ lòng thương để đưa đường chỉ lối cho chúng ta? Ai là người có đủ phương pháp thần diệu để giúp chúng ta ra khỏi sanh tử luân hồi?

Đấng cao cả sáng suốt và đầy đủ năng lực ấy không ai khác hơn là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, người đã chứng quả bất sanh, bất diệt; và chỉ có giáo pháp của Ngài mới cứu được chúng sanh ra khỏi vô thường đau khổ.

Vậy thì chúng ta còn ngần ngại gì nữa mà chẳng chịu quy y Tam Bảo.

CHÁNH ĐỀ:

ĐỊNH DANH VÀ GIẢI NGHĨA

  Quy y nghĩa là gì? 


Quy là trở về; Y là nương tựa, Quy Y là trở về nương tựa nơi mà mình đã vì si mê, phóng lãng đã lìa bỏ ra đi, như đứa trẻ khờ dại đã rời bỏ cha mẹ để ra đi hoang phá, bây giờ biết sự dại khờ do kinh nghiệm khổ đau, quay trở về nương tựa dưới bóng hạnh phúc và yêu thương của cha mẹ. Chữ Quy Y nguyên dịch nghĩa chữ Nam Mô của Phạn ngữ. Quy Y cũng có nghĩa là kính vâng hay phục tùng.

  Tam Bảo nghĩa là gì? 


Tam Bảo là ba ngôi quý báu: Phật, Pháp, Tăng.

Ở thế gian, vàng bạc, ngọc ngà và danh vọng là quý báu. Nhưng sự thật, vàng bạc và danh vọng đâu có cứu được con người khỏi khổ *sống, già, bệnh, chết, mà lắm khi lại làm cho con người thêm khổ nữa! Còn Phật, Pháp, Tăng thì có đủ năng lực dắt dẫn con người ra khỏi những cái khổ nói trên. Bởi thế, người đời mới tôn sùng Phật, Pháp, Tăng là ba ngôi quý báu (Tam Bảo).

a) Phật: Chữ Phật do chữ Phạn Bouddha phiên âm ra. Người Tàu dịch là Giác giả; người Pháp dịch là L’llluminé. Ba chữ ấy đều cùng một nghĩa là: bực đã giác ngộ sáng suốt hoàn toàn về ba phương diện: tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn.

b) Pháp: Pháp là do chữ Phạn Dharma mà dịch nghĩa ra. Pháp là phương pháp tu hành mà Phật đã phát huy ra để diệt trừ mọi mê muội, khổ đau và chứng được quả Phật. Ba tạng kinh điển gọi chung là Pháp.

c) Tăng: Tăng hay Tăng Già là do chữ Phạn Sangha mà phiên âm ra; Tàu dịch là: hòa hợp chúng, nghĩa là một đoàn thể tu hành từ 4 người sắp lên, cùng nhau sống chung một chỗ, đồng giữ giới luật của Phật, đồng chia sớt cho nhau một cách hòa thuận những gì đã thâu nhận được, từ vật chất cho đến tinh thần.

  Quy y Tam Bảo là thế nào? Quy y Tam Bảo là trở về nương tựa ba ngôi quý báu: Phật, Pháp, Tăng. 

  Tại sao lại quy y Phật? Vì Phật là đấng hoàn toàn sáng suốt, từ bi vô lượng, phước huệ vô biên, đức hạnh viên mãn; Vì Phật là kẻ dẫn đường vĩ đại nhất, đã có cái kinh nghiệm bản thân thoát ra ngoài vòng sanh tử để chứng Đạo. 

  Tại sao quy y Pháp? Vì chỉ có phương pháp của Phật là đầy đủ công năng để đưa chúng ta qua khỏi bể khổ, đến bờ giải thoát. 

  Tại sao lại quy y Tăng? Vì Tăng là người đã hy sinh gia đình, tiền của, danh vọng...để tình nghuyện thay Phật dắt dẫn chúng sanh trên đường đạo. 


BA BỰC TAM BẢO

Tam Bảo có ba bực: 

·         Đồng thể Tam Bảo. 

·         Xuất thế gian Tam Bảo. 

·         Thế gian trụ trì Tam Bảo. 

1.      ĐỒNG THỂ TAM BẢO 


a) Đồng thể Phật bảo, tức là nói tất cả chúng sanh cùng chư Phật đồng một thể tánh sáng suốt.

b) Đồng thể Pháp bảo, tức là nói tất cả chúng sanh cùng chư Phật đồng một pháp tánh từ bi, bình đẳng.

c) Đồng thể Tăng bảo, tức là nói tất cả chúng sanh cùng chư Phật đồng một thể tánh thanh tịnh, sự, lý hòa hợp.

2.      XUẤT THẾ GIAN TAM BẢO 
 

 

Xuất thế gian Tam Bảo: 

a) Xuất thế gian Phật bảo, là chỉ cho đức Phật Thích Ca Mâu ni, đức A Di Đà, chư Phật trong mười phương ba đời, đã tự giải thoát ra khỏi sự ràng buộc của thế gian.

b) Xuất thế gian Pháp bảo, là chỉ cho chánh pháp của Phật, có công năng làm cho chúng sanh thoát khỏi sự ràng buộc của thế gian, như Tứ Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Lục Độ v.v...

c) Xuất thế gian Tăng bảo, là chỉ cho các vị Thánh Tăng đã thoát ra ngoài sự ràng buộc của thế gian như đức Quan Thế Âm, Đại Thế Chí, Văn Thù, Ca Diếp, A Nan v.v...

3.      THẾ GIAN TRỤ TRÌ TAM BẢO 

a) Thế gian trụ trì Phật bảo, là chỉ cho xá lợi của Phật, tượng Phật đúc bằng kim khí chạm trổ bằng danh mộc, tô bằng đất, đắp bằng xi măng, thêu bằng vải, hay vẽ trên giấy.

b) Thế gian trụ trì Pháp bảo, là chỉ cho ba tạng giáo điển: Kinh, Luật, Luận, viết hay in trên giấy, trên vải, *trên là buôn v.v...

c) Thế gian trụ trì Tăng bảo, là chỉ các vị Tỳ Kheo tu hành chơn chánh, đạo đức trong sạch, giới luật trang nghiêm trong hiện tại.

SỰ QUY Y TAM BẢO

Sau khi đã hiểu rõ thế nào là *quy y Tam Bảo, tất nhiên phải thực hành sự hiểu biết ấy. Thực hành Tam Quy bằng sự tướng cung kính, vâng theo Tam Bảo, như thế gọi là sự quy y Tam Bảo.

1. Sự quy y Phật: Hằng ngày chúng ta phải nhớ tưởng luôn đến Phật, niệm danh hiệu Ngài, chiêm ngưỡng tượng Ngài, chí tâm thật ý lễ bái để tỏ lòng sùng kính Ngài, và nguyện suốt đời theo bước chân Ngài, ấy là sự quy y Phật.

2. Sự quy y Pháp: Hằng ngày tụng đọc kinh, luật, luận trên giấy trắng mực đen; sớm hôm hai thời công phu, tìm hiểu nghĩa lý thâm huyền của Pháp bảo càng tốt, không biết nghĩa tụng suông, cũng không phải là vô ích. Khi tụng đọc Kinh điển, tâm trí chúng ta không nghĩ đến những ý nghĩa xằng bậy, không nhớ tưởng những việc không hay, không bàn mưu tính kế để lợi kỷ, tổn nhơn. *Chúng ta trừ bỏ được sáng suốt, an lành, thanh tịnh.

3. Sự quy y Tăng: Thế gian thường nói: "Trọng Phật, phải kỉnh Tăng". Cho nên, nếu chúng ta thành tâm thờ Phật bao nhiêu thì chúng ta phải thật dạ kỉnh Tăng bấy nhiêu. Người thực hành sự quy y Tăng, hễ thấy người đầu tròn áo vuông, có chân chính tu hành, giữ gìn giới luật, thì liền kính nể, quý trọng xem như đó là vị đại diện của Đức Phật. Làm như thế là sự quy y Tăng.

Tóm lại, thờ Phật cốt, Phật tượng, tụng kinh, giữ giới nghiên cứu Phật Pháp, kính trọng Tăng Già chân chính, đó chính là sự quy y Tam Bảo, hay nói nôm na là theo đạo Phật.

LÝ QUY Y TAM BẢO

Lý là bên trong. Lý quy y Tam Bảo nghĩa là quy y Tam Bảo trong tâm chúng ta. Nếu chúng ta chỉ thực hành sự quy y, chỉ giong ruổi theo Tam Bảo bên ngoài, mà quên lý quy y, nghĩa là quên Tam Bảo bên trong tâm chúng ta, thì chúng ta chưa thực hành đúng nghĩa Tam Quy. Thật thế, bên trong tâm chúng ta cũng có đủ Tam Bảo. Chúng ta cần thực hành lý quy y, hay Tam Tự Quy Y: tự quy y Phật, tự quy y Pháp, tự quy y Tăng.

1. Tự quy y Phật: Tự nghĩa là mình đối với tự tâm mình. Tự quy y Phật là mình tự trở về với Phật tánh sáng suốt của tâm mình. Vâng, mỗi người đều có Phật tánh, và đều có thể thành Phật. Đó là lời Phật Thích Ca đã dạy. Nhưng Phật tánh ấy bị mê lầm, vọng tưởng che lấp. Vọng tưởng như mây mờ, Phật tánh như trăng. Mây mờ có thể che khuất, chứ không thể tiêu diệt được trăng sáng.

Phật tánh của chúng ta dù bị vọng tưởng, vô minh che lấp sâu kín đến đâu cũng vẫn thường còn. Vậy thì sao chúng ta lại bỏ quên Phật tánh của chúng ta, mà chỉ chạy theo cầu khẩn Phật bên ngoài; như đứa "cùng tử" có viên ngọc quý, cha mẹ đã giấu sẵn trong chéo áo mà nó không biết, lại đi xin ăn cùng khắp mọi nơi!

2. Tự quy y Pháp: Tự quy y Pháp là vâng theo Pháp tánh của mình. Trong tâm có đủ pháp Từ Bi, Trí Tuệ, Bình Đẳng, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn...Chúng ta cần phát huy những đức tánh ấy và hành động theo chúng, tuân theo chúng; như thế là tự quy y Pháp.

3. Tự quy y Tăng: Tự quy y Tăng là vâng theo thầy trong tâm mình. Thầy trong tâm mình là đức tánh thanh tịnh hòa hợp của mình, cũng như Tăng già là hiện thân của sự hòa hợp thanh tịnh bên ngoài. Bấy lâu vì mình bị mê muội, không nhận thấy được ông thầy trong tâm, nay nhờ Phật chỉ dạy, mình nhận thấy được ông thầy thanh tịnh ấy, thì mình phải quy y thầy của mình trước đã chứ!

Nói tóm lại, mình phải nương tựa, quay về với Phật trong tâm là tánh sáng suốt; với Pháp của mình là các đức tánh Từ Bi, Hỷ Xả v.v...; với Tăng của mình là sự hòa hợp, thanh tịnh của bản thân. Như thế là Lý quy y Tam Bảo.

NGHI THỨC QUY Y

Sau khi chúng ta đã hiểu rõ Sự và Lý quy y rồi, chúng ta cần phải biết qua nghi thức của lễ quy y.

1. Trước tiên phải gội rửa thân tâm cho trong sạch

Quy y là buổi lễ quan trọng nhất trên đường tu tập của chúng ta. Nó là cuộc khởi hành để đi đến mục đích giải thoát, vì thế chúng ta không thể xem thường, cử hành một cách bừa bãi được.

Khi muốn quy y, chúng ta phải y phục chỉnh tề, sắm khay lễ thỉnh chư Tăng đến trai đường, đảnh lễ và cầu xin chư Tăng rủ lòng từ bi truyền trao quy giới cho mình.

Trước ngày hành lễ, thân tâm chúng ta phải được gội rửa trong sạch. Ta tắm rửa sạch sẽ ăn mặc chỉnh tề. Đó là về Thân; còn về Tâm thì ta phải ba phen sám hối, cho ba nghiệp được thanh tịnh. Nhờ sự tẩy gội cả trong lẫn ngoài ấy, ta mới xứng đáng đón nhận pháp thanh tịnh cao quý của Tam Bảo.

2. Phát nguyện

Đến giờ quy y, chúng ta phải quỳ xuống; theo lời hướng dẫn của chư Tăng, chí thành phát nguyện: 

·         Đệ tử xin suốt đời quy y Phật. 

·         Đệ tử xin suốt đời quy y Pháp. 

·        

Fri 26 December 2008
 

LỜI TỰA

Quyển kinh này phát sanh do các bậc Thiện Tín Sài gòn có tâm tín thành trong sạch, mong làm việc pháp thí, là một điều phước rất cao quý, nên cầu atmā trích dịch để phân phát cho những hàng cư sĩ mộ đạo thấy rõ chơn lý nhà Phật và thực hành theo, ngõ hầu hưởng hạnh phúc thanh cao trong đời này và kiếp sau.

Quyển kinh này đã diễn ra quốc âm, nay tái bản, có duyệt chánh và thêm pháp trích lục trong các kinh, nhất là Hạnh phúc kinh - Maṅgalasutta.

Do quả phước của pháp thí này, cầu cho tất cả chúng sanh đừng có sự thù oán lẫn nhau, đừng có sự làm hại lẫn nhau, đừng có sự khổ não, hãy hòa hảo nhau, thương yêu nhau và cho được an vui lâu dài, cho có chánh kiến, xu hướng theo Phật Pháp, mau đến Niết-Bàn, dứt khỏi sanh tử luân hồi, hưởng quả vô sanh bất diệt.

Mong thay…

VAṂSARAKKHITA Bhikkhu
(HỘ TÔNG Tỳ khưu)

-ooOoo-

PHẬT PHÁP LƯỢC GIẢI

Vấn.

Đáp.

Vấn.

Đáp.

Quy y Phật, là nương theo Phật. Phật là bậc đã tỉnh giác vô minh, thấu suốt ba cõi, thông cả ba đời, đã chứng quả vô sanh bất diệt.

Chúng sanh muốn được giải thoát các thống khổ, lẽ đương nhiên phải nương theo Ngài, đi trên con đường Ngài đã đi, thì sẽ đạt mục đích như Ngài chẳng sai.

Quy y Pháp, là phải nương theo lời Phật dạy, có ghi chép trong Tam Tạng Pháp Bảo (Kinh, Luật, Luận). Xem Tam Tạng và học hỏi thêm nơi bậc Thiện Trí Thức, để suy cứu cho châu đáo, lời nào hữu lý mới nên thật hành theo, chẳng vì nghe thấy mà vội tin, e phải lầm đường lạc nẽo.

Phật có dặn Đại Đức A-Nan-Đa rằng: "A-Nan-Đa nầy! sau khi Như Lai nhập diệt, nếu có ai nói ta

Quy y Tăng là nương theo Tăng, Tăng là nhóm thầy Tỳ-khưu, từ 4 vị trở lên, hòa thuận ở chung cùng nhau, ăn theo Phật

Tăng là những bậc tu hành chân chánh, xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo, hạnh kiểm trang nghiêm đáng làm mô phạm cho quần sinh, nên chi ta cần nương theo để bước lên con đường giải thoát.

Vấn.

Đáp.

Cho nên niệm Phật, tham thiền là một phương pháp tối cao, làm cho tâm xao xuyến trở nên thanh tịnh, tâm mờ ám ra sáng suốt, thấu rõ ba tướng: vô thường, khổ não, vô ngã, của sự vật, chẳng có vật chi là của ta, cho đến thân tứ đại (mà ta lầm tưởng là ta), cũng chẳng phải ta thì ngoài ra có cái chi là ta, là của ta. Với nhận thức ấy, chẳng còn chi cho ta phải quyến luyến, thương yêu ham muốn thì có chi là khổ, tức là được tiêu diêu tự tại vậy.

Kinh Pháp Cú có nói: "Cái nhân của các thống khổ là lòng thương yêu, ham muốn; bằng dứt lòng thương yêu, ham muốn, cái khổ không sanh vậy". Chúng ta vì khổ mà phải tu, nếu niệm Phật mà dứt khổ thì còn chờ gì mà không thành tâm đêm ngày niệm Phật đặng thoát khổ đến vui.

Vấn.

Đáp.

Thường hồi ức quan sát mới có thể tự thấy lỗi mình, rồi thành tâm sám hối ngay; thân tâm sẽ trở nên trong sạch, tu hành mau có hiệu quả.

Sám hối là ăn năn chừa cải những lỗi đã phạm trước và nguyện sau này chẳng dám tái phạm. Sự ăn năn cũng chưa đủ trừ tội, phải làm lành thêm, làm nhiều hơn cái tội mà mình đã phạm mới được.

Vấn.

Đáp.

Lễ Phật, cúng Phật vì lòng kính mến ân đức của Phật, Ngài đã trọn phạm hạnh từ, bi, hỷ, xả, siêu xuất tam giới, đáng cho chúng sanh lễ bái, chiêm ngưỡng. Khi dâng hương, dâng hoa, cúng Phật nên thành tâm niệm tưởng chí nguyện tự giác giác tha của Ngài.

Thưở còn ở địa vị Bồ Tát, Ngài thấy chúng sanh hằng bị cái khổ sanh tử trọng đại, cho đến thân Ngài cũng không tránh khỏi số phận ấy; nhân đó, Ngài đành lìa ngôi vua, trốn cha lánh vợ, xa con, vào non tuyết lãnh tu, khổ hạnh sáu năm, để tìm đạo giải thoát. Khi tìm chứng quả Niết-Bàn rồi mà cũng chưa vội Nhập diệt, Ngài đi thuyết pháp trọn 45 năm, mong tiếp độ chúng sanh thoát ly khổ hải, Ngài mới mãn nguyện. Ân đức ấy, trời cao khó sánh, biển thẳm không bì. Nên chi, khi lễ Phật, cúng Phật, chúng ta phải nhớ đến ân đức cao thâm ấy, rồi chuyên trì theo đạo hạnh của Ngài, nguyện tu theo đạo hạnh của Ngài, nguyện tu theo chủ nghĩa từ bi, bác ái, tự giác, giác tha, thế mới gọi là lễ Phật, cúng Phật bằng cách chơn chánh cao thượng.

Trong sách Minh Tâm có mấy câu nầy, rất đúng chơn lý:

Lễ Phật giả, Kính Phật chi đức,
Niệm Phật giả, Cảm Phật chi ân,
Khán kinh giả, Minh Phật chi lý,
Tọa thiền giả, Đăng Phật chi cảnh.

Nghĩa là:

Lạy Phật ấy, Kính đức của Phật,
Tưởng Phật ấy, Cảm tạ ơn của Phật,
Xem kinh ấy, Rõ lẽ của Phật,
Ngồi thiền ấy, Lên cõi của Phật.

Vấn.

Đáp.

1.- Thú mà người cố ý giết để cho ta ăn, và ta nghe tiếng nó kêu la.
2.- Thú mà người cố ý giết để cho ta ăn và ta đã thấy nó bị giết.
3.- Thú mà ta biết hoặc nghi người giết cố ý để cho ta ăn.

Ba thứ thịt ấy gọi là "Tam Tịnh Nhục".

Dưới đây, tôi xin trích soạn mấy điều xin của thầy Đề-Bà-Đạt-Đa (đệ tử nghịch Phật) một ngày kia vào bạch Phật như vầy: Bạch Đức Thế Tôn, cầu xin Đức Thế Tôn nhận chịu mấy lời đệ tử xin sau nầy:

Xin Đức Thế Tôn buộc các Thầy Tỳ-khưu:

1.- Phải ở tu nơi rừng đến trọn đời.
2.- Phải khất thực mà ăn đến trọn đời.
3.- Phải ăn chay đến trọn đời.
4.- Phải mặc y bằng vải dơ lượm được đến trọn đời.
5.- Phải tu gần cội cây đến trọn đời.

Phật bèn đáp: "Đề-Bà-Đạt-Đa nầy! Như Lai không thể thuận theo lời của người xin đó đâu. Các Thầy Tỳ-khưu được phép:

1.- Tu ở rừng, ở núi, hoặc ở chùa.
2.- Phải khất thực mà ăn, nhưng khi có thí chủ thỉnh thì được phép đi dự trai tăng.
3.- Ăn chay hoặc ăn mặn theo tam tịnh nhục (là ba món đã kể trên).
4.- Phải mặc y may bằng vải lượm được

Sự giải thoát chẳng phải chỗ ăn chay hoặc ăn mặn, mà ở tịnh tam nghiệp là:

Thân:

Khẩu:

Ý:

Ăn chay mà thân khẩu không lành, ý chứa gươm đao, giới luật không giữ thì đâu gọi là ăn chay. Chay là lành, là trong sạch toàn cả thân, khẩu, ý.

Trong Phật học đại tự điển có giải rằng: Trai giả, khiết giả, trang giả, cung gia, Chữ trai ấy nghĩa là: sạch vậy, nghiêm vậy, kỉnh vậy. Tẩy tâm viết trai: rửa lòng trong sạch gọi là trai vậy

Ông Pierre Salet, dịch giả cuốn "Les paroles du Bouddha" có trích diễn câu này: "Ce qui nous rend impur, ce n’est pas manger de la viande, mais c’est la haine, l’intempérance, l’entêtement, la bigoterie, la fourberie, l’envie, l’orgueil, la complaisance pour les hommes injustes".

Nghĩa là "Những điều làm cho chúng ta bất tịnh không phải là sự ăn thịt (ăn mặn), mà là lòng oán hận, không tiết độ, ngang ngạnh, mê tín, gian xảo, tật đố, kiêu căng, xu hướng theo kẻ bất chánh."


Chú thích:

Không tham, không sân, không tà kiến.
Không nói dối, không chửi rủa, không đâm thọc, không nói lời vô ích.
Không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm.
- Ăn cách nào tu cũng được, tùy duyên mà ăn cho vừa đủ sức lực đặng sống để hành đạo cho tinh tấn. Ăn chay mà thân thể xanh xao, tinh thần bạc nhược thì rất hại; đường tu đạo đã không được tiến hóa mà còn phải thối chuyển, trở ngại cho sự tu hành. Ăn chay như thế, thà là ăn mặn, ăn theo câu "ăn mà sống, chứ không phải sống mà ăn", phải nguyện cữ ba món kể sau nầy, dầu không ăn nó mà phải chết, cũng chẳng nên ăn:
- Tu cần phải ăn chay không?
- Thờ Phật để cho ta thường được chiêm ngưỡng Đức Hạnh cao siêu của Phật mà thức tỉnh thân tâm, tu hành theo chánh pháp của Ngài. Thờ Phật phải chọn chỗ quí trọng. Phật là bậc Chí Tôn Chí Thánh, thầy cả ba giới, từ phụ bốn loài, chỗ thờ Ngài phải chí cao, chí trọng mới là phải.
- Thờ Phật, lễ Phật và cúng Phật có ý nghĩa như thế nào?
- Vì đã quan sát hoặc quan sát không chu đáo những hành vi, nên ta hay tưởng lầm làm quấy, cho giả là thiệt, lấy khổ làm vui, rồi gây ra nghiệp báo dẫy đầy. Mà cũng chưa biết tự hối, vì thế mà đức Phật dạy các đệ tử: "Phải xem xét việc làm, lời nói và ý tưởng cho nhặt nhiệm, bằng không thì sự tu hành khó bề tấn hóa".
- Quan sát các sở hành có ích lợi chi?
- Vì bị ngũ trần lôi cuốn, làm cho tâm lu mờ điên đảo, không phân lẽ chánh điều tà, nên chúng ta tạo ra nghiệp báo sâu dày, do đó mà phải bị luân chuyển trong sáu đường, từ vô lượng kiếp, đến nay vẫn còn mắc trong vòng khốc hại. Nếu muốn được sáng suốt, trước trì giới cho nghiêm, sau định tâm cho vững, chế ngự lục căn, ngăn ngừa lục trần, thì tâm sẽ dần dần thanh tịnh, suốt thông mọi lẽ, phân biệt chánh tà, lánh các sự dữ, làm những điều lành, như thế sẽ hết khổ được vui. Ví như nước giữa gió, thường hay xao động, nên chúng ta xem trong nước nào thấy rõ vật chi. Nếu đem nước đựng vào nơi kín đáo, sóng lặn nước trong, vật chi trong nước cũng hiện bày tỏ rõ, chúng ta biết nước tốt mà dùng, biết nước dơ mà bỏ.
- Vì sao phải niệm Phật?
– Tam Quy, bước đường tối tiên của người học Phật; Quy y Phật, Quy y Pháp, Quy y Tăng, gọi là Quy y Tam Bảo. Bạc, vàng, san hô, hổ phách, xà cừ, xích châu, mã não là bảy báu thế gian, tuy quý thật, nhưng chẳng có năng lực tiếp độ chúng sanh ra khỏi vòng sanh tử. Chỉ có Phật Pháp Tăng mới cứu vớt chúng sanh hết khổ đến vui được, nên gọi là Tam Bảo. Ba món báu quý trọng hơn hết.
– Tu, cớ sao phải thọ Tam Quy?
– Đạo Phật là con đường để cho tinh thần của chúng sanh nương theo, ngõ hầu đi đến mục đích thoát ly sông mê biển khổ. Trong thế gian có nhiều sự khổ kể không xiết, nên Phật gọi là biển khổ: sanh khổ; già khổ; đau khổ; chết khổ; muốn mà không được, khổ; thương mà phải lìa, khổ; ghét mà phải hợp, khổ; thương tủi, khổ; thất vọng, khổ; sanh ly tử biệt, khổ; vân vân… Đã biết bị trầm luân khổ ải, lẽ cố nhiên phải tìm đường thoát khổ; con đường ấy là Đạo Phật vậy. Cho nên chúng ta cần phải xu hướng theo để dứt khỏi thống khổ luân hồi.
– Vì sao phải tu Phật? nghe Phật giảng giải cách này, hoặc thế kia, các ngươi chớ nên vội tin mà cũng đừng vội bỏ; nghe rồi phải xét, lời nào đúng theo chơn lý là lời của Như Lai; bằng không, là lời bịa đặt, các ngươi nên cẩn thận, dè dặt".[1], ở theo Phật [2], mặc theo Phật [3], nghiêm trì giới luật theo Phật [4]. Các Ngài siêng năng học hỏi Tam Tạng, nhứt là phải thông thuộc Tạng Luật để thọ trì cho tinh nghiêm, và cảm hóa người đời y theo chí nguyện hoằng pháp lợi sanh của Phật.[5], nhưng khi có thí chủ dâng cúng y thì được phép thọ lãnh và mặc.
5.- Được phép tu ở tịnh thất.
[6].

[1]

Phật ngọ thực.
[2]
Ngài hằng ngự nơi thanh vắng (rừng núi) trừ ra trong 3 tháng hạ thì Ngài mới ngự nơi tịnh xá.
[3]
Ngài mặc tam y, trì bình khất thực.
[4]
Giới luật tinh nghiêm.
[5]
Rồi giặt sạch.
[6] Chữ trai tục thường gọi là chay, xem thêm trong "Lịch sử Phật pháp".

-ooOoo-

Fri 26 December 2008
 

NHỰT HÀNH
CỦA NGƯỜI TẠI GIA TU PHẬT

Bhikkhu VAṂSARAKKHITA
Tỳ khưu HỘ TÔNG

Ấn bản 2006 (PL. 2550)

 

Phần I

LỄ BÁI TAM BẢO
TIPAṆĀMA SAṄKHEPA

1. LỄ BÁI TAM BẢO TÓM TẮT

BÀI THỈNH CHƯ THIÊN

Sagge kāme ca rūpe girisikharatate cantalikkhe vimāne.
Dīpe raṭṭthe ca gāme taruvanagahaṇe gehavatthumhi khette.
Bhummā cāyantu devā jalathalavisame yakkhagandhabbanāgā.
Tiṭṭhantā santike yaṃ munivaravacanaṃ sādhavo me suṇantu.

Dhammassavanakālo ayambhadantā
Dhammassavanakālo ayambhadantā
Dhammassavanakālo ayambhadantā.

Xin thỉnh Chư Thiên ngự trên cõi trời Dục giới cùng Sắc giới; Chư Thiên ngự trên đảnh núi, núi không liền, hoặc nơi hư không; ngự nơi cồn bãi, đất liền hoặc các châu quận; ngự trên cây cối rừng rậm hoặc ruộng vườn; Chư Dạ-Xoa, Càn-Thác-Bà, cùng Long Vương dưới nước trên bờ hoặc nơi không bằng phẳng gần đây, xin thỉnh hội họp lại đây. Lời nào là kim ngôn cao thượng của Đức Thích Ca Mâu Ni mà chúng tôi tụng đây, xin các bậc Hiền Triết nên nghe lời ấy.

Xin các Ngài đạo đức, giờ nầy là giờ nên nghe Pháp Bảo.
Xin các Ngài đạo đức, giờ nầy là giờ nên nghe Pháp Bảo.
Xin các Ngài đạo đức, giờ nầy là giờ nên nghe Pháp Bảo.
(lạy)

RATANATTAYAPŪJĀ

Imehi dīpadhūpādi sakkārehi Buddhaṃ Dhammaṃ Saṅghaṃ abhipūjayāmi mātāpitādīnaṃ guṇavantānañca mayhañca dīgharattaṃ atthāya hitāya sukhāya.

LỄ CÚNG TAM BẢO

Tôi xin dâng các lễ vật nầy, nhứt là nhang đèn để cúng Phật, Pháp, Tăng, Tam Bảo, ngưỡng cầu cho các bậc ân nhân, nhứt là cha mẹ tôi và tôi đều được sự tấn hóa, sự lợi ích, sự bình an lâu dài. (lạy)(lạy)

BUDDHARATANAPAṆĀMA

Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.
Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.
Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.

LỄ BÁI PHẬT BẢO

Tôi đem hết lòng thành kính làm lễ Đức Bhagavā đó, Ngài là bậc Arahaṃ cao thượng, được chứng quả Chánh Biến Tri do Ngài tự ngộ, không thầy chỉ dạy. (đọc 3 lần, lạy 1 lạy)

Yo sannisinno varabodhimūle,
Māraṃ sasenaṃ mahatiṃ vijeyyo,
Sambodhimāgacchi anantañāṇo,
Lokuttamotaṃ paṇamāmi buddhaṃ.

Đức Phật tham thiền về số tức quan, ngồi trên Bồ đoàn, dưới bóng cây Bồ Đề quý báu và đắc thắng toàn bọn Ma Vương mà thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Ngài là bậc tối thượng hơn cả chúng sanh, tôi đem hết lòng thành kính mà làm lễ Ngài. (lạy)

Ye ca buddhā atītā ca,
Ye ca buddhā anāgatā,
Paccuppannā ca ye buddhā,
Ahaṃ vandāmi sabbadā.

Chư Phật đã thành Chánh Giác trong kiếp quá khứ. Chư Phật sẽ thành Chánh Giác trong kiếp vị lai. Chư Phật đang thành Chánh Giác trong kiếp hiện tại này, tôi đem hết lòng thành kính mà làm lễ Chư Phật trong Tam Thế ấy. (lạy)

BUDDHAGUṆA - ÂN ĐỨC PHẬT

Itipi so Bhagavā

1-

1- Đức Thế Tôn hiệu Arahaṃ, bởi Ngài đã xa lìa các tội lỗi nên tiền khiên tật thân và khẩu của Ngài đều được trọn lành.

2- Sammāsambuddho (Chánh Biến Tri).

2- Đức Thế Tôn hiệu Sammāsambuddho, bởi Ngài đã thành bậc Chánh Đẳng, Chánh Giác, tự Ngài ngộ lấy không thầy chỉ dạy.

3- Vijjācaraṇasampanno (Minh Hạnh Túc).

3- Đức Thế Tôn hiệu Vijjācaraṇasampanno, bởi Ngài toàn đắc 3 cái giác, 8 cái giác, và 15 cái hạnh.

4- Sugato (Thiện Thệ).

4- Đức Thế Tôn hiệu Sugato, bởi Ngài đã ngự đến nơi an lạc, bất sanh, bất diệt, Đại Niết Bàn.

5- Lokavidū (Thế Gian Giải).

5- Đức Thế Tôn hiệu Lokavidū, bởi Ngài đã thông suốt Tam Giới.

6- Anuttaro (Vô Thượng sĩ)

6- Đức Thế Tôn hiệu Anuttaro, bởi Ngài có đức hạnh không ai bì.

7- Purisadammasārathi (Điều Ngự Trượng Phu).

7- Đức Thế Tôn hiệu Purisadammasārathi, bởi Ngài là đấng tế độ những người hữu duyên nên tế độ.

8- Satthā devamanussānaṃ (Thiên Nhơn Sư).

8- Đức Thế Tôn hiệu Satthā devamanussānaṃ, bởi Ngài là thầy cả Chư Thiên và nhân loại.

9- Buddho (Phật).

9- Đức Thế Tôn hiệu Buddho, bởi Ngài Giác ngộ lý Tứ Diệu Đế và đem ra giáo hóa chúng sanh cùng biết với.

10- Bhagavā’ti (Thế Tôn).

10- Đức Thế Tôn hiệu Bhagavā, bởi Ngài đã siêu xuất Tam Giới tức là Ngài không còn luân hồi lại nữa. (lạy)

BUDDHA ATTAPAṬIÑÑĀ

Natthi me saraṇaṃ aññaṃ,
Buddho me saraṇaṃ varaṃ,
Etena saccavajjena,
Hotu me jayamaṅgalaṃ.

LỜI BỐ CÁO QUY Y PHẬT BẢO

Chẳng có chi đáng cho tôi phải nương theo, chỉ có Đức Phật là quý báu, nên tôi phải hết lòng thành kính mà nương theo, đặng cầu sự an lạc đến cho tôi, y như lời chơn thật này. (lạy)

BUDDHA KHAMĀPANA

Uttamaṅgena vandehaṃ,
Pādapaṃsuṃ varuttamaṃ,
Buddhe yo khalito doso,
Buddho khamatu taṃ mamaṃ.

SÁM HỐI PHẬT BẢO

Tôi đem hết lòng thành kính cúi đầu làm lễ vi trần dưới chân Đức Phật, là Đấng Chí Tôn Chí Thánh. Các tội lỗi mà tôi đã vô ý phạm đến Phật Bảo, cúi xin Phật Bảo xá tội lỗi ấy cho tôi. (lạy)

DHAMMARATANAPAṆĀMA

Aṭṭhaṅgikārīyapatho janānaṃ,
Mokkhappavesāya ujū ca maggo,
Dhammo ayaṃ santikaro paṇīto,
Niyyāniko taṃ panamāmi dhammaṃ.

LỄ BÁI PHÁP BẢO

Các Pháp đúng theo đạo Bát Chánh, là con đàng đi của bậc Thánh Nhân, là con đàng chánh, dẫn người hữu chí nhập Niết-Bàn được. Pháp Bảo là Pháp trừ diệt các sự lao khổ và các điều phiền não, là Pháp chỉ dẫn chúng sanh thoát khỏi cái khổ sanh tử luân hồi, tôi đem hết lòng thành kính mà làm lễ Pháp ấy. (lạy)

Ye ca dhammā atītā ca,
Ye ca dhammā anāgatā,
Paccuppannā ca ye dhammā,
Ahaṃ vandāmi sabbadā.

Các Pháp của Chư Phật đã có trong kiếp quá khứ. Các Pháp của Chư Phật sẽ có trong kiếp vị lai. Các Pháp của Chư Phật đang giáo truyền trong kiếp hiện tại nầy. Tôi đem hết lòng thành kính mà làm lễ các Pháp trong Tam Thế ấy. (lạy) Akāliko.

DHAMMAGUṆA - ÂN ĐỨC PHÁP BẢO

1- Svākkhāto Bhagavatā.

1- Svākkhāto Bhagavatā dhammo nghĩa là Tam Tạng Pháp Bảo của Đức Thế Tôn đã khẩu truyền y theo chánh pháp.

2- Dhammo.

2- Dhammo là Pháp Thánh có 9 hạng: "4 đạo, 4 quả và 1 Niết Bàn".

3- Sandiṭṭhiko.

3- Sandiṭṭhiko là Pháp mà Chư Thánh đã thấy chắc, biết chắc bởi nhờ kiến tánh, chẳng phải vì nghe, vì tin kẻ nào khác, nghĩa là tự mình thấy rõ chơn lý.

4-

4- Akāliko là Pháp độ cho đắc quả không chờ ngày giờ, là khi nào đắc đạo thì đắc quả không chậm trễ.

5- Ehipassiko.

5- Ehipassiko là Pháp của Chư Thánh đã đắc quả rồi, có thể ứng hóa cho kẻ khác biết được.

6- Opanayiko.

6- Opanayiko là Pháp của Chư Thánh đã có trong mình do nhờ phép Thiền Định.

7- Paccattaṃ veditabbo viññūhī’ ti.

7- Paccattaṃ veditabbo viññūhi: là Pháp mà các hàng trí tuệ nhất là bậc Thượng Trí được biết, được thấy tự nơi tâm. (lạy)

DHAMMA ATTAPAṬIÑÑĀ

Natthi me saraṇaṃ aññaṃ,
Dhammo me saraṇaṃ varaṃ,
Etena saccavajjena,
Hotu me jayamaṅgalaṃ.

LỜI BỐ CÁO QUY Y PHÁP BẢO

Chẳng có chi đáng cho tôi phải nương theo, chỉ có Pháp Bảo là quí báu, nên tôi phải hết lòng thành kính mà nương theo, đặng cầu sự an lạc đến cho tôi, y như lời chơn thật nầy. (lạy)

DHAMMA KHAMĀPANA

Uttamangena vandehaṃ,
Dhammañca duvidhaṃ varaṃ,
Dhamme yo khalito doso,
Dhammo khamatu taṃ mamaṃ.

SÁM HỐI PHÁP BẢO

Tôi đem hết lòng thành kính, cúi đầu làm lễ hai hạng Pháp Bảo là Pháp Học và Pháp Hành. Các tội lỗi mà tôi đã vô ý phạm đến Pháp Bảo, cúi xin Pháp Bảo xá tội lỗi ấy cho tôi. (lạy)

SAṄGHARATANAPAṆĀMA

Saṅgho visuddho varadakkhiṇeyyo,
Santindriyo sabbamalappahīno,
Guṇehinekehi samiddhipatto,
Anāsavo taṃ paṇamāmi Saṅghaṃ.

LỄ BÁI TĂNG BẢO

Chư Thánh Tăng đã được trong sạch quí báu là bậc đáng cho người dâng lễ cúng dường, vì lục căn của các Ngài đã thanh tịnh, lòng tham muốn đã dứt trừ, là Tăng đã thoát ly trần tục, tôi xin hết lòng thành kính mà làm lễ Chư Thánh Tăng ấy. (lạy)

Ye ca saṅghā atītā ca,
Ye ca saṅghā anāgatā,
Paccuppannā ca ye saṅghā,
Ahaṃ vandāmi sabbadā.

Chư Tăng đã đắc Đạo cùng Quả trong kiếp quá khứ. Chư Tăng sẽ đắc Đạo cùng Quả trong kiếp vị lai. Chư Tăng đang đắc Đạo cùng Quả trong kiếp hiện tại này, tôi đem hết lòng thành kính mà làm lễ Chư Thánh Tăng trong Tam Thế ấy. (lạy)

SAṄGHAGUṆA - ÂN ĐỨC TĂNG BẢO

1- Supaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho.

1- Supaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho: Tăng là các bậc Thinh Văn đệ tử Phật, các Ngài đã tu hành chính chắn y theo Chánh Pháp.

2- Ujupaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho.

2- Ujupaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho: Tăng là các bậc Thinh Văn đệ tử Phật, các Ngài đã tu hành chính chắn y theo Thánh Pháp.

3- Ñāyapaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho.

3- Ñāyapaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho: Tăng là các bậc Thinh Văn đệ tử Phật, các Ngài tu hành để Giác Ngộ Niết-Bàn, là nơi an lạc dứt khỏi các sự thống khổ.

4- Sāmīcipaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho.

4- Sāmīcipaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho: Tăng là các bậc Thinh Văn đệ tử Phật, các Ngài đã tu theo phép Giới Định Tuệ.

5- Yadidaṃ cattāri purisayugāni.

5- Yadidaṃ cattāri purisayugāni: Tăng nếu đếm đôi thì có bốn bậc:

- Tăng đã đắc Đạo cùng Quả Tu-Đà-Hườn.
- Tăng đã đắc Đạo cùng Quả Tư Đà Hàm.
- Tăng đã đắc Đạo cùng Quả A Na Hàm.
- Tăng đã đắc Đạo cùng Quả A La Hán.

6- Aṭṭha purisapuggalā.

6- Aṭṭha purisapuggalā: Tăng nếu đếm chiếc thì có tám bậc:

- Tăng đã đắc Đạo Tu-Đà-Hườn.
- Tăng đã đắc Quả Tu-Đà-Hườn.
- Tăng đã đắc Đạo Tư Đà Hàm.
- Tăng đã đắc Quả Tư Đà Hàm.
- Tăng đã đắc Đạo A Na Hàm.
- Tăng đã đắc Quả A Na Hàm.
- Tăng đã đắc Đạo A La Hán.
- Tăng đã đắc Quả A La Hán.

7- Esa Bhagavato sāvakasaṅgho.

7- Esa Bhagavato sāvakasaṅgho: Chư Tăng ấy là các Bậc Thinh Văn đệ tử Phật.

8- Āhuneyyo.

8- Āhuneyyo: Các Ngài đáng thọ lãnh bốn món vật dụng của tín thí, ở phương xa đem đến dâng cúng cho những người có giới hạnh.

9- Pāhuneyyo.

9- Pāhuneyyo: Các Ngài đáng thọ lãnh của tín thí, mà họ dành để cho thân quyến cùng bầu bạn ở các nơi, nhưng họ lại đem đến dâng cúng cho các Ngài.

10- Dakkhiṇeyyo.

10- Dakkhiṇeyyo: Các Ngài đáng thọ lãnh của Tín thí, tin lý nhân quả đem đến dâng cúng.

11- Añjalikaraṇīyo.

11- Añjalikaraṇīyo: Các Ngài đáng cho chúng sanh lễ bái.

12- Anuttaraṃ puññakkhettaṃ lokassā' ti.

12- Anuttaraṃ puññakkhettaṃ lokassa: Các Ngài là phước điền của chúng sanh không đâu bì kịp. (lạy)

SAṄGHA ATTAPATIÑÑĀ

Natthi me saranaṃ aññaṃ,
Saṅgho me saraṇam varaṃ,
Etena saccavajjena,
Hotu me jayamaṅgalaṃ.

LỜI BỐ CÁO QUY Y TĂNG BẢO

Chẳng có chi đáng cho tôi phải nương theo, chỉ có Đức Tăng là quí báu, nên tôi phải hết lòng thành kính mà nương theo, đặng cầu sự an lạc đến cho tôi y, như lời chơn thật này. (lạy)

SAṄGHA KHAMĀPANA

Uttamaṅgena vandehaṃ,
Saṅghañca duvidhottamaṃ,
Saṅghe yo khalito doso,
Saṅgho khamatu taṃ mamaṃ.

SÁM HỐI TĂNG BẢO

Tôi đem hết lòng thành kính, cúi đầu làm lễ hai bậc Tăng Bảo là Phàm Tăng và Thánh Tăng, các tội lỗi mà tôi đã vô ý phạm đến Tăng Bảo, cúi xin Tăng Bảo xá tội lỗi ấy cho tôi. (lạy)

*

LỄ BÁI TAM BẢO TÓM TẮT CHUNG VỚI SỰ CÚNG DƯỜNG LỄ VẬT

Namo tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa.

1. Itipiso Bhagavā arahaṃ sammāsambuddho vijjācaraṇasampanno sugato lokavidū anuttaro purisadammasārathi satthā devamanussānaṃ buddho Bhagavāti.

Taṃ arahatādiguṇasaṃyuttaṃ buddhaṃ sirasā namāmi.
Tañca buddhaṃ imehi sakkārehi abhipūjayāmi.

Tôi xin thành kính cúi đầu làm lễ Đức Chánh Biến Tri, Ngài có đầy đủ các đức, nhất là đức Arahaṃ.
Tôi xin thành kính cúng dường Đức Chánh đẳng Chánh giác bằng các lễ vật này.
(lạy)

2. Svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opanayiko paccattaṃ veditabbo viññūhīti.

Taṃ svākkhātatādiguṇasaṃyuttaṃ dhammaṃ sirasā namāmi.
Tañca dhammaṃ imehi sakkārehi abhipūjayāmi.

Tôi xin thành kính cúi đầu làm lễ Pháp Bảo có đầy đủ các đức, nhất là đức Svākkhāto.
Tôi xin thành kính cúng dường Pháp Bảo bằng các lễ vật này.
(lạy).

3. Supaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho ujupaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho ñāyapaṭipanno bhagavato sāvakasaṅgho yadidaṃ cattāri purisayugāni aṭṭha purisapuggalā esa bhagavato sāvakasaṅgho āhuneyyo pāhuneyyo dakkhiṇeyyo añjalikaraṇīyo anuttaraṃ puññakkhettaṃ lokassā ‘ ti.

Taṃ supaṭipannatādiguṇasaṃyuttaṃ saṅghaṃ sirasā namāmi.
Tañca saṅghaṃ imehi sakkārehi abhipūjayāmi.

Tôi xin thành kính cúi đầu làm lễ đức Tăng có đầy đủ các đức, nhứt là đức Supaṭipanno.
Tôi xin thành kính cúng dường đức Tăng bằng các lễ vật này.
(lạy)

*

LÀM LỄ ĐỨC XÁ LỢI (tóm tắt)

Vandāmi cetiyaṃ sabbaṃ,
Sabbaṭṭhāne supatiṭṭhitaṃ,
Sārīrikadhātumahābodhiṃ,
Buddharūpaṃ sakalaṃ sadā.

Tôi xin thành kính làm lễ tất cả Bảo Tháp. Ngọc Xá-Lợi, đại thọ Bồ Đề và Kim thân Phật đã tạo thờ trong khắp mọi nơi.

DỨT LỄ BÁI TAM BẢO

*

2. DÂNG HOA CÚNG PHẬT

Vaṇṇagandhaguṇopetaṃ,
Etaṃ kusuma santatiṃ,
Pūjayāmi munindassa,
Siripādasanoruhe.

Pūjemi Buddhaṃ kusumena’ nena,
Puññena metena ca hontu mokkhaṃ,
Pupphaṃ milāyāti yatā idamme,
Kāyo tathā yāti vināsabhāvaṃ.

(Pūjemi Dhammaṃ kusumena’ nena,
Puññena metena ca hontu mokkhaṃ,
Pupphaṃ milāyāti yatā idamme,
Kāyo tathā yāti vināsabhāvaṃ.

Pūjemi Saṅghaṃ kusumena’ nena,
Puññena metena ca hontu mokkhaṃ,
Pupphaṃ milāyāti yatā idamme,
Kāyo tathā yāti vināsabhāvaṃ.)

*

3. KINH HỒI HƯỚNG

Idaṃ no ñātīnaṃ hotu,
Sukhitā hontu ñātayo.

Do sự phước báu mà chúng tôi đã trong sạch làm đây, xin hồi hướng đến thân bằng quyến thuộc đã quá vãng, cầu mong cho các vị ấy hằng được yên vui. (3 lần)

KINH HỒI HƯỚNG CHƯ THIÊN

Ākāsaṭṭhā ca bhummaṭṭhā,
Devā nāgā mahiddhikā,
Puññaṃ no anumodantu,
Ciraṃ rakkhantu sāsanaṃ.
Ākāsaṭṭha ca bhummaṭṭhā,
Devā nāgā mahiddhikā,
Puññaṃ no anumodantu,
Ciraṃ rakkhantu no garū.
Ākāsaṭṭha ca bhummaṭṭhā,
Devā nāgā mahiddhikā,
Puññaṃ no anumodantu,
Ciraṃ rakkhantu maṃ paraṃti.
Chư Thiên ngự trên hư không,
Địa cầu thượng ngự rõ thông mọi điều.
Long vương thần lực có nhiều,
Đồng xin hoan hỷ phước đều chúng tôi.
Hộ trì Phật giáo tăng bồi,
Các bậc Thầy tổ an vui lâu dài.
Quyến thuộc tránh khỏi nạn tai,
Chúng sanh được hưởng phước dài bền lâu.
Chúng tôi vui thú đạo mầu,
Tu hành tinh tấn ngõ hầu siêu sanh.
(lạy)

 

-ooOoo-

(3 lần)
(Tụng 3 lần, lạy 1 lạy)
Arahaṃ (Ứng Cúng).
Fri 26 December 2008
 

Phần II

LUẬT CƯ SĨ TÓM TẮT
GIHIVINAYA SAṄKHEPA

PHÉP TU BƯỚC ĐẦU
(Pubbabhāgapaṭipatti)

Những người có lòng tin tưởng đến ân đức Tam Bảo và muốn Quy y làm cận sự nam (Upāsaka) hoặc cận sự nữ (Upāsika) là phép tu bước đầu cho đặng chính chắn theo bổn phận người cư sĩ, trước tiên phải tỏ lòng sám hối giữa Tam Bảo, trước một, hai, ba vị Tỳ-khưu hoặc trước mặt Tăng chúng, là từ bốn vị Tỳ-khưu trở lên, mà sám hối cũng được, rồi sau mới thọ Tam Quy mới đúng theo luật tại gia cư sĩ, xong rồi phải xin thọ trì Ngũ Giới cho đến trọn đời. Nếu có lòng tín thành sốt sắng hơn, nên thọ trì Bát Quan Trai Giới theo ngày đã định thì càng quí.

Nếu chỉ có một người nam hoặc một người nữ sám hối thì phải đọc như vầy:

Accayo maṃ bhante accagamā yathā bālaṃ yathā mūlhaṃ yathā akusalaṃ

Yo (yā) haṃ bhante kāyena vā vācāya vā manasā vā bhagavato buddhassa vā dhammassa vā saṅghassa vā agāravaṃ akāsiṃ tassa (tassā) me bhante Bhagavā (ayyo, ayyā, saṅgho) accayaṃ accayato patiggaṇhātu (patiggaṇhantu) āyatiṃ saṃvarāya.

Bạch Đức Thế Tôn (Ngài, các Ngài, Đại Đức Tăng).
Vì tôi là người thiểu trí, lầm lạc và không minh mẫn, nên đã phạm các tội lỗi.

Bạch Đức Thế Tôn (Ngài, các Ngài, Đại Đức Tăng).
Sợ e tôi đã dễ duôi, không đem lòng thành kính, mà phạm đến Phật Pháp Tăng.

Cầu xin Đức Thế Tôn (Ngài, các Ngài. Đại Đức Tăng).
Xá tội lỗi ấy cho tôi, bởi các tội lỗi ấy là quấy thật, đặng cho tôi làm những việc lành từ nay về sau.

Xong rồi, thầy Tỳ-khưu hoặc chư Tăng chứng minh nơi ấy phải nhận bằng tiếng "Sādhu" nghĩa là: "Phải rồi, đúng rồi".

Nếu có nhiều Thiện tín, từ hai người trở lên, đồng xin sám hối một lượt thì đọc:

(Nghĩa như trước, chỉ khác nhau là đổi "tôi" ra "chúng tôi").

Accayo no bhante accagamā yathā bāle (bālā) yathā mūlhe (mūlhā) yathā akusale (akusalā).

Ye (yā) mayaṃ bhante kāyena vā vācāya vā manasā vā Bhagavato Buddhassa vā dhammassa vā saṅghassa vā agāravaṃ akarimhā tesaṃ (tāsaṃ) no bhante Bhagavā (ayyo, ayyā, saṅgho) accayaṃ accayato patiggaṇhātu (patiggaṇhantu) āyatiṃ saṃvarāya.

Khi đã sám hối giữa Tam Bảo rồi, nên xin thọ trì Tam Quy (Quy y Phật, Quy y Pháp, Quy y Tăng) mới đúng theo phép tu của cận sự nam hoặc cận sự nữ trong Phật Pháp.

Phép Quy y trước mặt 1, 2, 3 thầy Tỳ-khưu hoặc giữa Tăng chúng đều được cả. Nếu chỉ có một người nam hoặc một người nữ làm phép Quy y trước mặt thầy Tỳ-khưu hoặc giữa Tăng chúng thì phải đọc như sau:

Esāhaṃ bhante suciraparinibbutampi taṃ Bhagavantaṃ saraṇaṃ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca.

Upāsakaṃ (upāsikaṃ) maṃ ayyo (ayyā, saṅgho) dhāretu (dhārentu) ajjatagge pāṇupetaṃ saraṇaṃ gataṃ.

Bạch Ngài (Các Ngài, Đại Đức Tăng).
Tôi cầu xin thọ phép quy y Phật đã nhập Niết-Bàn, cầu xin thọ phép quy y Pháp, cầu xin thọ phép quy y Tăng.

Xin Ngài (Các Ngài, Đại Đức Tăng)
Nhận biết cho tôi là cận sự nam (cận sự nữ) đã quy y Tam Bảo kể từ ngày nay cho đến trọn đời.

Xong rồi thầy Tỳ-khưu hoặc Tăng chúng phải nhận bằng tiếng "Sādhu".

Nếu có nhiều Thiện tín, từ hai người trở lên, đồng xin thọ phép quy y thì đọc:

Ete (etā) mayaṃ bhante sucira-parinibbutampi taṃ bhagavantaṃ saraṇaṃ gacchāma dhammañca bhikhusaṅghañca.

Upāsake (upāsikāyo) no ayyo (ayyā, saṅgho) dhāretu (dhārentu) ajjatagge pāṇupete (pāṇupetā) saranaṃ gate (gatā).

Nghĩa như trước chỉ khác nhau là đổi "tôi" ra "chúng tôi".

Nếu chỉ có một người nam hoặc một người nữ đối trước tượng Phật, hoặc trước tháp thờ Xá-Lợi mà làm phép quy y thì đọc:

Esāhaṃ bhante suciraparinibbutampi taṃ Bhagavantaṃ saraṇaṃ gacchāmi dhammañca bhikkhusaṅghañca.

Upāsakaṃ (upāsikaṃ) maṃ Bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṃ saraṇaṃ gataṃ.

Nghĩa như trên chỉ khác nhau chỗ gọi: Bạch Ngài, các Ngài Đại Đức Tăng, thì đọc: Bạch Đức Thế Tôn.

DỨT PHẦN "PHÉP TU BƯỚC ĐẦU"

*

THIỆN NAM TÍN NỮ CHÚC NGƯỜI MỚI QUY Y

Ngưỡng cầu Đức Phật ban ơn,
Độ người chánh kiến tầm chơn đạo thiền.
Ngưỡng cầu Đức Pháp vô biên,
Độ người hữu chí cần chuyên đạo hành.
Ngưỡng cầu hai bậc Tăng lành,
Độ người mộ đạo tâm thành quy y.
Cầu xin Thiên chúng hộ trì,
Giúp người giới luật luôn khi giữ tròn.
Chúc cho bạn mới lòng son,
Tu hành tinh tấn dạ mong Niết Bàn.
Thiện nam Tín nữ lưỡng ban,
Xin cùng đồng đạo bạn vàng nhận thâu.
Phước lành đào tạo bấy lâu,
Đồng xin hồi hướng nguyện cầu quả cao.
Đạo mầu gắng chí giồi trau,
Thoát đường tội lỗi trần lao dứt lần.
Tìm người trí thức xa gần,
Gặp người đạo đức ân cần hỏi han.
Ngày đêm tu tập đoan trang,
Công phu hành đạo tìm đường siêu sanh.
Dọn thân khẩu ý trọn lành,
Kịp thời thoát tục thực hành đạo cao.
Tìm đường Bát chánh lần vào,
Siêu phàm nhập Thánh tiêu dao Niết Bàn.

PHÉP THỌ NGŨ GIỚI

Những người đã thọ phép Tam Quy rồi nếu muốn thọ Ngũ giới, phải xin thọ nơi thầy Tỳ-khưu hoặc Sa-di.

Trước hết phải đọc "Bài lễ bái Tam Bảo" tưởng đến ân đức Phật, Pháp, Tăng rồi mới nên đối trước mặt thầy Tỳ-khưu hoặc Sa-di mà xin thọ Ngũ giới bằng lời sau nầy:

Ukāsa, Ahaṃ (Mayaṃ) bhante visuṃ visuṃ rakkhanatthāya tisaraṇena saha pañca sīlāni yācāmi (ma).

Bạch Ngài, Tôi (Chúng tôi) xin thọ trì Tam Quy và Ngũ Giới, nơi Tam Bảo, để vâng giữ hành theo cho được sự lợi ích.

Dutiyampi Ahaṃ (Mayaṃ) bhante visuṃ visuṃ rakkhanatthāya tisaraṇena saha pañca sīlāni yācāmi (ma).

Bạch Ngài, Tôi (Chúng tôi) xin thọ trì Tam Quy và Ngũ Giới, nơi Tam Bảo, để vâng giữ hành theo cho được sự lợi ích, lần thứ nhì.

Tatiyampi Ahaṃ (Mayaṃ) bhante visuṃ visuṃ rakkhanatthāya tisaraṇena saha pañca sīlāni yācāmi (ma).

Bạch Ngài, Tôi (Chúng tôi) xin thọ trì Tam Quy và Ngũ Giới, nơi Tam Bảo để vâng giữ hành theo cho được sự lợi ích, lần thứ ba.

Xong rồi ông Thầy chứng minh nơi ấy phải đọc bài nầy ba lần:

Namo tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa".

Tôi xin hết lòng thành kính làm lễ Đức Bhagavā đó, Ngài là bậc Arahaṃ cao thượng, được chứng quả Chánh Biến Tri do Ngài tự ngộ, không thầy chỉ dạy."

Ông thầy đọc tiếp bài Quy y Tam Bảo, người thọ giới cũng phải đọc theo:

Buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi.

Tôi đem hết lòng thành kính xin Quy y Phật.

Dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi.

Tôi đem hết lòng thành kính xin Quy y Pháp.

Saṅghaṃ saraṇaṃ gacchāmi.

Tôi đem hết lòng thành kính xin Quy y Tăng.

Dutiyampi Buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi.

Tôi đem hết lòng thành kính xin Quy y Phật, lần thứ nhì.

Dutiyampi Dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi.

Tôi đem hết lòng thành kính xin Quy y Pháp, lần thứ nhì.

Dutiyampi Saṅghaṃ saraṇaṃ gacchāmi.

Tôi đem hết lòng thành kính xin Quy y Tăng, lần thứ nhì.

Tatiyampi Buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi.

Tôi đem hết lòng thành kính xin Quy y Phật, lần thứ ba.

Tatiyampi Dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi.

Tôi đem hết lòng thành kính xin Quy y Pháp, lần thứ ba.

Tatiyampi Saṅghaṃ saraṇaṃ gacchāmi.

Tôi đem hết lòng thành kính xin Quy y Tăng, lần thứ ba.

Ông Thầy đọc:

"Tisaraṇaggahanaṃ paripuṇṇam": "Phép Quy y Tam Bảo tròn đủ chỉ có bấy nhiêu".

Người thọ Tam Quy đọc lời sau nầy:

"Āma bhante

Ông thầy đọc: (Người thọ trì Ngũ giới phải đọc theo).

1. Pāṇātipātā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.

1- Tôi xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa SỰ SÁT SANH.

2. Adinnādānā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.

2- Tôi xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa SỰ TRỘM CẮP.

3. Kāmesu micchācārā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.

3- Tôi xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa SỰ TÀ DÂM.

4. Musāvādā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.

4- Tôi xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa SỰ NÓI DỐI.

5. Surāmerayamajjappamādaṭṭhānā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.

5- Tôi xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa SỰ DỄ DUÔI UỐNG RƯỢU VÀ CÁC CHẤT SAY.

Ông thầy đọc:

"Imāni pañca sikkhāpadāni sādhukaṃ katvā appamādena niccakālaṃ sammārakkhitabbaṃ".

"Thiện tín (hoặc chư Thiện tín) nên thọ trì Ngũ Giới nầy cho được trong sạch, phải vâng giữ hành theo cho đến trọn đời, chẳng nên dễ duôi".

Người thọ giới đọc:

Ông thầy giải về quả báo trong việc trì giới.

Sīlena sugatiṃ yanti,
Sīlena bhogasampadā,
Sīlena nibbutiṃ yanti,
Tasmā sīlaṃ visodhaye.

Các chúng sanh được sanh về cõi Trời cũng nhờ giữ giới, các chúng sanh được giàu sang cũng nhờ giữ giới, các chúng sanh được giải thoát nhập Niết-Bàn cũng nhờ giữ giới. Bởi các cớ ấy, nên Thiện tín (hoặc chư Thiện tín) phải ráng thọ trì giới luật cho trong sạch, đừng để lấm nhơ.

Người thọ giới trả lời

*

PHÉP THỌ BÁT QUAN TRAI GIỚI

Những người Thiện tín cầu xin thọ giới Bát Quan Trai, trước ngày hạn kỳ thọ giới, phải sắp đặt cho xong xuôi công việc của mình làm trong ngày thường, đặng sáng ra xin thọ giới cho được trong sạch, khỏi bị việc trần ràng buộc.

Đến kỳ, sáng phải thức cho sớm, dọn mình cho sạch sẽ rồi mới đến thọ giới, nếu đi được trong lúc rạng đông thì tốt, bằng không thì phải đối trước Kim Thân, mà phát nguyện như sau:

Ajja Uposatho imañca rattiṃ imañca divasaṃ uposathiko (kā) bhavissāmi.

Ngày nay phải thọ trì giới Bát Quan Trai, tôi là người thọ trì giới Bát Quan Trai, trọn ngày nay và đêm nay.

Nếu không thuộc tiếng Pāli thì phát nguyện bằng tiếng Việt cũng được.

Sau khi đã nguyện phải giữ một lòng không nên phạm điều học mà mình phải đã thọ trì. Nếu tiện thì phải đi xin thọ giới nơi thầy Tỳ-khưu hoặc Sa-di, dầu khi mặt trời đã lên cao rồi mà mình mới đi thọ giới, thì cũng gọi rằng được thọ trọn một ngày một đêm, bởi mình đã có phát nguyện rồi, phước báu cũng bằng nhau.

Khi đối trước mặt thầy Tỳ-khưu hoặc Sa-di, mà xin thọ giới Bát Quan Trai, trước hết phải đọc bài Lễ Tam Bảo, sau mới xin thọ giới.

Xin thọ giới Bát Quan Trai phải đọc như vầy:

Ukāsa ahaṃ (mayam) bhante visuṃ visuṃ rakkhanatthāya tisaraṇena saha aṭṭhaṅga-samannāgataṃ uposathaṃ yācāmi (ma).

Bạch Ngài, (tôi, chúng tôi) xin thọ trì Tam quy và Bát Quan Trai giới, để vâng giữ hành theo cho được sự lợi ích .

Dutiyampi ahaṃ (mayaṃ) bhante visuṃ visuṃ rakkhanatthāya tisaraṇena saha aṭṭhaṅga- samannāgataṃ uposathaṃ yācāmi (ma).

Bạch Ngài, (tôi, chúng tôi) xin thọ trì Tam quy và Bát Quan Trai giới, để vâng giữ hành theo cho được sự lợi ích, lần thứ nhì.

Tatiyampi ahaṃ (mayaṃ) bhante visuṃ visuṃ rakkhanatthāya tisaraṇena saha aṭṭhaṅga- samannāgataṃ uposathaṃ yācāmi (ma).

Bạch Ngài, (tôi, chúng tôi) xin thọ trì Tam quy và Bát Quan Trai giới, để vâng giữ hành theo cho được sự lợi ích, lần thứ ba.

(Xong rồi ông thầy truyền giới đọc bài Namo ba lần và Tam Quy, mình phải đọc theo y như trong "phép thọ Ngũ Giới" đã có giải).

*

BÁT QUAN TRAI GIỚI

1. Pāṇātipātā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.

1- Tôi xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa SỰ SÁT SANH.

2. Adinnādānā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.

2- Tôi xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa SỰ TRỘM CẮP.

3. Abrahmacariyā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.

3- Tôi xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa SỰ THÔNG DÂM.

4. Musāvādā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.

4- Tôi xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa SỰ NÓI DỐI.

5. Surāmerayamajjappamādaṭṭhānā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.

5- Tôi xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa SỰ DỄ DUÔI UỐNG RƯỢU VÀ CÁC CHẤT SAY.

6. Vikālabhojanā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.

6- Tôi xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa SỰ ĂN SÁI GIỜ.

7. Naccagītavāditavisūkadassanamālāgandha -vilepanadhāraṇamaṇḍanavibhūsanaṭṭhānā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.

7- Tôi xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa SỰ MÚA HÁT, THỔI KÈN, ĐỜN, XEM MÚA HÁT, NGHE ĐỜN KÈN, TRANG ĐIỂM, THOA VẬT THƠM, DỒI PHẤN VÀ ĐEO TRÀNG HOA.

8. Uccāsayanamahāsayanā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi.

8- Tôi xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa CHỖ NẰM NGỒI NƠI QUÁ CAO VÀ XINH ĐẸP.

Xong rồi, người xin thọ giới đọc:

Imaṃ aṭṭhaṅgasamannāgataṃ buddhap-paññattaṃ uposathaṃ imañca rattiṃ imañca divasaṃ sammadeva abhirakkhituṃ samādiyāmi.

Tôi xin thọ trì Bát Quan Trai giới trọn đủ tám điều của Đức Phật đã giáo truyền, hầu để vâng giữ hành theo cho được trong sạch trọn ngày nay và đêm nay, mong cầu gieo được giống lành để thấy rõ Niết-Bàn trong ngày vị lai.

Xong rồi ông thầy truyền giới đọc bằng lời sau này để nhắc nhở cho mình ghi nhớ:

Imāni aṭṭha sikkhāpadāni uposathasīla-vasena imañca rattiṃ imañca divasaṃ sādhukaṃ katvā appamādena sammārakkhitabbaṃ.

Chư Thiện tín nên thọ trì Bát Quan Trai giới cho trong sạch trọn ngày nay và đêm nay không nên dễ duôi.

Người thọ giới đọc:

Xong rồi, ông thầy giải về quả báo trì giới:

Sīlena sugatiṃ yanti,
Sīlena bhogasampadā,
Sīlena nibbutiṃ yanti,
Tasmā sīlaṃ visodhaye.

Nghĩa như trước

Người thọ giới đọc:

DỨT PHẦN THỌ BÁT QUAN TRAI

*

CHI CỦA NGŨ GIỚI

GIỚI SÁT SANH CÓ 5 CHI:

1- Chúng sanh có thức tánh (Pāṇo).
2- Biết chúng sanh có thức tánh
(Pāṇasaññitā).
3- Tính giết
(Vadhakacittaṃ).
4- Ráng sức giết
(Upakkamo).
5- Chúng sanh chết bởi sự ráng sức ấy
(Tena maranaṃ).

1- Vật có chủ gìn giữ (Parapariggahitaṃ).
2- Biết rằng vật có chủ gìn giữ
(Para-pariggahitasaññitā).
3- Tính trộm cắp
(Theyyacittaṃ).
4- Ráng sức trộm cắp
(Upakkamo).
5- Trộm cắp được bởi ráng sức ấy
(Tena haranaṃ).

1- Người nữ không nên tà dâm, nghĩa là gái có người gìn giữ (Agamanīyaṭṭhānaṃ).
2- Tính tà dâm với gái đó
(Tasmiṃ sevanācittaṃ).
3- Ráng sức tà dâm
(Upakkamo).
4 - Đã tà dâm
(Maggena maggappaṭipādanaṃ).

1- Điều không thật (Atathaṃ vatthu).
2- Tính nói dối
(Visaṃvādanacittaṃ).
3- Ráng sức nói dối
(Tajjo vāyāmo).
4- Đã làm cho người tin chắc lời nói dối ấy
(Parassa tadatthavijānanaṃ).

1- Rượu (Majjanīyavatthu).
2- Tính uống
(Pātukamyatācittaṃ).
3- Ráng sức uống rượu ấy
(Tajjo vāyāmo).
4- Đã uống rượu ấy khỏi cổ (Tassa pānaṃ).

*

CHI CỦA GIỚI BÁT QUAN TRAI

Các chi trong giới sát sanh, trộm cắp, nói dối, uống rượu đều giống trong Ngũ Giới.

GIỚI HÀNH DÂM CÓ 4 CHI:

1- Trong 30 khiếu [1] (Bhedanavatthu).
2- Tính hành dâm
(Sevanācittaṃ).
3- Ráng sức hành dâm
(Tajjo vāyāmo).
4- Đã hành dâm
(Maggena maggappaṭipādanaṃ).

1- Sái giờ (là từ chinh xế đến mặt trời mọc) (Vikālo).
2- Vật thực được phép ăn trong giờ (Yāvakālikaṃ). (từ mặt trời mọc đến đứng bóng).
3- Đã ăn khỏi cổ
(Ajjhoharaṇaṃ).

1- Múa hát, đờn kèn (Naccagītādi).
2- Tính làm
(Kattukamyatācittaṃ).
3- Đi nghe hoặc xem và đã nghe hoặc đã xem
(Sutadassanatthāya gamanaṃ).
4- Vật để trang điểm nhất là tràng hoa
(Mālādi).
5- Cố ý dùng đồ trang điểm nhan sắc (
Dhāraṇacchandatā).
6- Đã dùng đồ trang điểm mà trang sức
(Tassa dhāraṇaṃ).

1- Nơi nằm ngồi quá cao và xinh đẹp (Uccāsayanamahāsayanaṃ).
2- Tính nằm hoặc ngồi
(Paribhogacittaṃ).
3- Đã nằm hoặc đã ngồi (Paribhogakaraṇaṃ).

Khi thiện tín đã phạm đều đủ chi trong mỗi giới gọi là đứt giới, bằng phạm chưa đủ chi, chỉ gọi là giới bất tịnh.

*

HẠN KỲ TRONG PHÉP THỌ GIỚI BÁT QUAN TRAI

Nếu luận về ngày kỳ, thì Giới Bát quan trai chia ra làm hai cách:

1) Phép Bát quan trai thọ trì trong một ngày và một đêm (Pakati uposatha).
2) Phép Bát quan trai thọ trì thêm ngày rước và ngày đưa (Pāṭijāgara uposatha).

Bát quan trai thọ trì trong một ngày, một đêm có 8 ngày trong mỗi tháng: ngày 5, 8, 14,15, 20, 23, 29, 30, tháng thiếu thì ngày 28 và 29.

Bát quan trai thọ thêm ngày rước và ngày đưa, có 12 ngày trong mỗi tháng: ngày 1, 4, 6, 7, 9, 13, 16, 19, 21, 22, 24, 28 tháng (thiếu ngày 27): trong 12 ngày ấy đều là ngày trước và sau liên tiếp 8 ngày bát quan trai thọ trì trong một ngày và một đêm.

GIẢI TÓM TẮT VỀ HAI CÁCH THỌ TRÌ

BÁT QUAN TRAI

Trong Bát quan trai thọ trì trong một ngày và một đêm ấy, Thiện tín phải đối trước mặt thầy Tỳ-khưu hoặc Sa-di, mà xin thọ giới mỗi khi đến ngày kỳ.

Trong Bát quan trai thọ trì thêm ngày đưa và ngày rước, Thiện tín phải trau giồi đức tánh, tưởng nhớ tám điều học, trong 12 ngày đưa rước, chỉ phải giữ mình, lánh xa ngũ trần để chờ ngày đặng xin thọ trì Bát quan trai 1 ngày, 1 đêm cho thêm sự tinh khiết, không buộc phải đi thọ giới nơi thầy Tỳ-khưu hoặc Sa-di.

Phép Bát quan trai thọ trì 1 ngày 1 đêm dạy phải đối trước mặt thầy Tỳ-khưu hoặc Sa-di mà xin thọ trì Tám điều học; đến khi mãn một ngày một đêm ấy, chỉ phải giữ gìn không cho phạm đến Tám điều học, nhưng không buộc phải xin thọ giới.

Khi Phật còn tại thế có truyền phép Bát quan trai 6 ngày trong mỗi tháng, là ngày 8, 14, 15, 29, 30, (tháng thiếu thì 28, 29).

Sau khi Phật tịch diệt được 4 tháng, có cuộc đại hội nhóm 500 vị A La Hán. Đại Đức Ma ha Ca Diếp làm tọa chủ để kết tập Kinh Luật, thấy còn cách khoảng (từ 15 đến 23, từ 30 tới mùng 8), các Ngài định thêm ngày 5 và 20 để làm phép Bát quan trai trong mỗi tháng có Tám ngày.

VIỆC NÊN LÀM

Thiện nam, Tín nữ đã xin thọ giới Bát quan trai 1 ngày 1 đêm, trong mỗi kỳ, nếu muốn được trọn phước thì phải giữ gìn thân và khẩu cho trong sạch, y như lời Phật đã truyền răn.

Muốn cho thân được tinh khiết phải tránh xa các nghiệp nghệ trong ngày ấy, nhứt là nghề ruộng rẫy, mua bán, vì là việc làm cho giới bất tịnh.

Muốn cho khẩu được trọn lành, phải ngăn ngừa những lời nói vô ích, nói đến thế sự; nhứt là biện luận về cơm, gạo, tốt, hay xấu, xứ này xứ kia có nước đục hay trong, y phục dày hay mỏng, nam nữ nhiều hay ít, v.v....; phải nói về điều lành là bàn luận về phép thọ Ngũ giới, Bát quan trai giới, và món quả báo của sự trì giới, tham thiền, trí tuệ và nghe thuyết Pháp. Trước khi niệm Phật tham thiền phải suy nghĩ về các tội của ngũ dục bằng cách sau này: Sắc, thinh, hương, vị, xúc, năm món trần ấy, đều làm cho mình mắc phải nhiều sự phiền não luôn luôn.

Hoặc suy gẫm về cái thân ngũ uẩn, cho thấy rõ là vô thường, khổ não, vô ngã; nó sẽ tan rã do nhiều duyên cớ, nhứt là bị thời tiết; nó chỉ làm cho mình phải lao khổ, nó sẽ tan rã tự nhiên, nó chẳng có chi là quí trọng cả; thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn cũng đều là vô thường, khổ não, vô ngã như sắc uẩn vậy.

Lại suy gẫm thêm về phép động tâm:

Tất cả chúng sanh trong vũ trụ, chẳng có một ai mà mình nương nhờ được dầu là cha mẹ, vợ chồng, con trai, con gái, bầu bạn hoặc gia tài cũng đều là khổ, đều là không phải là chổ nương nhờ, không có một ai chia sự vui, sự buồn hoặc thay thế cái đau, cái chết cho mình được .

Nếu mình đã tạo nhân dữ, thì mình phải mang quả khổ; bằng làm lành thì được hưởng quả vui, cái khổ hoặc cái vui nó chỉ đến cho một mình ta: dầu có của cải bao nhiêu cũng không thể đem theo được, nếu suy gẫm như thế đó, thì sẽ thấy cả trong vũ trụ đều không có chỗ nương nhờ; chỉ có ân đức Phật, Pháp, Tăng; chỉ có phép Bố thí, Trì giới, Tham thiền, trí tuệ, là đáng cho mình nương theo thì mình sẽ được tiếp dẫn trong kiếp vị lai chẳng sai vậy.

Nếu đã suy gẫm như vậy, rồi ắt sẽ được tỏ ngộ, cảm mến đến ân đức Tam Bảo, dùng 10 hiệu của Phật để niệm tưởng.

Đức Phật có dạy cách niệm như sau này: phải tìm nơi thanh vắng ngồi kiết già hoặc bán già cho ngay thẳng, thong thả, cho thanh tịnh mà niệm.

PHÉP NIỆM PHẬT CÓ BA CÁCH

1- Phải tưởng "Itipi so Bhagavā Arahaṃ, Sammāsambuddho..." cho đến "Bhagavā" rồi niệm trở lại từ đầu đến cuối, cho đủ 10 hiệu Phật. Tưởng như vậy được bao nhiêu lần cũng tốt, được 1.000 lần hoặc 10.000 lần, hoặc nhiều hơn nữa càng thêm tốt, tùy sức của mình (xem hiệu Phật nơi chương Ân Đức Phật Bảo).

2- Phải tưởng "So Bhagavā itipi Arahaṃ, so Bhagavā itipi Sammāsambuddho..." cho đến "So Bhagavā itipi Bhagavā..." rồi niệm trở lại từ đầu đến cuối cho đủ 10 hiệu của Phật; tưởng như vậy được bao nhiêu lần cũng tốt, được 1.000 lần hoặc 10.000 lần, hoặc nhiều hơn nữa càng thêm tốt, tùy sức của mình.

3- Phải tưởng một hiệu Arahaṃ, hoặc Sammā- sambuddho, hoặc Buddho, hoặc Bhagavā trong 10 hiệu, niệm hiệu nào cũng được, nghĩa là chỉ tưởng một hiệu mà thôi, tưởng được nhiều càng thêm tốt tùy sức mình, song niệm thì phải hiểu nghĩa mỗi hiệu mới được (xem chương Ân đức Phật Bảo).

Niệm đặng thanh tịnh thì sẽ thấy 5 pīti (phỉ lạc, vui sướng, no lòng không biết đói khát) phát sanh ra trong mình như sau này:

1- Cách no vui, da và lông đều nổi ốc (Khuddakāpīti).
2- Cách no vui, như thấy trời chớp (Khaṇikāpīti).
3- Cách no vui, hiển hiện như lượng sóng dội nhằm mình (Okkantikāpīti).
4- Cách no vui nhiều, có thể làm cho thân bay bổng trên hư không (Ubbeṅgāpīti).
5- Cách no vui, làm cho mát mẻ thân tâm (Pharaṇāpīti).

Nếu có một trong 5 cách no vui phát sanh thì được kết quả gần vào bậc sơ định.

Phép niệm Phật không có mãnh lực cho kết quả đến bậc Sơ Định, bởi ân đức của Phật là vô lượng vô biên, khó thấu cho cùng tột được. Người thường năng niệm Phật thì tham, sân, si, không phát khởi lên đặng, năm phép chướng ngại (tham, sân, nghi nan, buồn ngủ, phóng tâm) cũng đều yên lặng. Người niệm Phật phải hổ thẹn và ghê sợ tội lỗi của mình, như có Phật hằng ở trước mắt mình vậy.

Cho nên dầu ít căn lành, cũng được sự hạnh phúc sẽ sanh làm người phú túc, cao sang, hoặc làm bậc trời trong kiếp vị lai; vì thế, các bậc thiện trí thức không nên khinh rẻ phép niệm Phật; phép này có nhiều phước báu, y theo lý đạo đã giải trên.

*

THẬP ÁC NGHIỆP

1. THÂN CÓ 3 NGHIỆP:

1- Sát sanh (Pāṇātipāto).
2- Trộm cắp (Adinnādānaṃ).
3- Tà dâm (Kāmesu micchācāro).

2. KHẨU CÓ 4 NGHIỆP:

1- Nói dối (Musāvādo).
2- Nói hai lưỡi (Pisuṇāvācā).
3- Nói độc ác (Pharusavācā).
4- Nói vô ích (Samphappalāpo).

3. Ý CÓ 3 NGHIỆP:

1- Tham muốn (Abhijjhā).
2- Thù oán (Byāpādo).
3- Thấy lầm (Micchādiṭṭhi).

Các chi của nghiệp: sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối đã có giải ở chương Ngũ giới và Bát quan trai rồi.

NGHIỆP NÓI HAI LƯỠI CÓ 4 CHI:

1- Người mà ta đâm thọc (Bhinditabbo paro).
2- Cố ý nói đâm thọc người ấy (Bhedanapurekkhāratā).
3- Rán sức nói đâm thọc người ấy (Tajjovāyāmo).
4- Làm cho người ấy biết rõ cách đâm thọc đó (Tassa tadatthavijānanaṃ).

NGHIỆP NÓI ĐỘC ÁC CÓ 3 CHI:

1- Người mà ta đã mắng chưởi (Akkositabbo paro).
2- Lòng nóng giận (Kuppitacittaṃ).
3- Đã mắng chưởi (Akkosanā).

NGHIỆP NÓI VÔ ÍCH CÓ 2 CHI:

1- Lời nói vô ích, nhứt là nói về việc đánh giặc của vua Mahābhārata và nói về chuyện Rāma cướp nàng Sitā (Bhāratayuddhasitaharaṇādiniratthakathā).
2- Đã nói lời vô ích có trạng thái như thế ấy
(Tathā rūpīkathākathanaṃ).

1- Tài vật của người (Parabhaṇḍaṃ).
2- Tính muốn đem về làm của mình (Attano pariṇāmanaṃ).

Ý THÙ OÁN CÓ 2 CHI:

1- Người khác (ngoài mình ra) (Parasatto).
2- Tính chờ làm hại người ấy (Tassa taṃ vināsacintā).

Ý THẤY LẦM CÓ 2 CHI:

1- Ý biến đổi theo điều lầm lạc, nhứt là không tin Tam Bảo (Vatthuno ca gahitākaraviparītatā).
2- Ý thấy lầm lạc ấy hiểu lầm cách nào và chấp theo sự hiểu lầm ấy cho là phải (Yathā ca naṃ gaṇhāti tathābhāvena tassūpaṭṭhānaṃ).

Trong 10 nghiệp dữ đã giải, khi đã phạm đều đủ chi trong mỗi nghiệp, thì người phạm tội phải mang quả khổ trong đời này và đời sau. Nếu trong đời hiện tại mà chưa bị hành phạt, là bởi cái quả dữ ấy chưa đến kỳ, qua đời vị lai sẽ bị hành phạt chẳng sai.

THẬP THIỆN NGHIỆP

1. THÂN CÓ 3 NGHIỆP:

1- Không sát sanh.
2- Không trộm cắp
3- Không tà dâm.

2- KHẨU CÓ 4 NGHIỆP:

1. hông nói dối
2.Không nói hai lưỡi.
3. Không nói độc ác.
4. Không nói vô ích.

3- Ý CÓ 3 NGHIỆP:

1. Không có ý muốn được tài vật của người về làm của mình.
2. Không có thù oán mong làm hại người.
3. Thấy chánh rồi càng thêm tin lẽ chánh ấy.

Người nào hành theo 10 nghiệp lành đã giải trên, thì sẽ được hưởng quả vui trong đời hiện tại và vị lai chẳng sai.

TỨ THẬP NGHIỆP (KAMMAPATHA)

GIẾT LOÀI ĐỘNG VẬT

1. Mình giết loài động vật.
2. Bảo kẻ khác giết loài động vật.
3. Vui trong sự giết loài động vật.
4. Khen sự giết loài động vật.

TRỘM CẮP

5. Mình trộm lấy của người.
6. Bảo kẻ khác trộm lấy của người.
7. Vui trong sự trộm lấy của người.
8. Khen sự trộm lấy của người.

TÀ DÂM

9. Mình làm sự tà dâm.
10. Bảo kẻ khác làm sự tà dâm.
11. Vui trong sự tà dâm.
12. Khen sự tà dâm.

NÓI DỐI

13. Mình nói dối
14. Bảo kẻ khác nói dối.
15. Vui trong lời nói dối.
16. Khen lời nói dối.

NÓI ĐÂM THỌC

17. Mình nói lời đâm thọc.
18. Bảo kẻ khác nói lời đâm thọc.
19. Vui trong lời đâm thọc.
20. Khen lời nói đâm thọc.

NÓI DỮ

21. Mình nói lời nói dữ.
22. Bảo kẻ khác nói lời dữ.
23. Vui trong lời nói dữ.
24. Khen lời nói dữ.

NÓI LỜI VÔ ÍCH

25. Mình nói lời vô ích.
26. Bảo kẻ khác nói lời vô ích.
27. Vui trong lời nói vô ích.
28. Khen lời nói vô ích.

THAM MUỐN CỦA NGƯỜI

29. Lòng mình tham muốn của người về làm của mình.
30. Bảo kẻ khác tham muốn của người.
31. Vui trong việc tham muốn của người.
32. Khen việc tham muốn của người.

THÙ OÁN

33. Lòng mình thù oán mong hại người.
34. Bảo kẻ khác thù oán hại người.
35. Vui trong việc thù oán hại người.
36. Khen việc thù oán hại người.

THẤY QUẤY

37. Mình thấy quấy (giả cho là thiệt, tà cho là chánh).
38. Bảo kẻ khác thấy quấy.
39. Vui trong việc thấy quấy.
40. Khen việc thấy quấy.

Trong 40 nghiệp này, nếu phạm vào một nghiệp nào, thì gọi là nghiệp ác.

*

GIẢI VỀ 14 PHÉP DÂNG CÚNG VẬT THỰC

* Nếu Thiện nam, Tín nữ có lòng tín thành sốt sắng, muốn dâng cúng vật thực đến Tăng chúng hoặc Tỳ-khưu, Sa-di, thì nên làm theo 14 phép sau này:

1. Phép dâng cúng thực phẩm đến Tăng chúng (Saṅghabhattaṃ).

2. Phép dâng cúng thực phẩm đến 1, 2 hoặc 3 thầy Tỳ-khưu (Uddesabhattaṃ).

3. Phép dâng cúng thực phẩm đến thầy Tỳ-khưu mà mình thỉnh đến (Nimantanabhattaṃ).

4. Phép dâng cúng thực phẩm đến thầy Tỳ-khưu mà mình bắt thăm (Salākabhattam).

5. Phép dâng cúng thực phẩm đến thầy Tỳ-khưu, Tăng, trong một ngày nào không nhất định, trong thượng huyền hoặc trong hạ huyền (Pakkhikabhattaṃ).

6. Phép dâng cúng thực phẩm đến thầy Tỳ-khưu, Tăng, trong một ngày Bát quan trai (Uposathikabhattaṃ).

7. Phép dâng cúng thực phẩm đến thầy Tỳ-khưu, Tăng, trong một ngày mùng 1 hoặc ngày 16 (Pāṭipadikabhattaṃ).

8. Phép dâng cúng thực phẩm đến thầy Tỳ-khưu, Tăng, ở xa mới đến (Āgantukabhattaṃ).

9. Phép dâng cúng thực phẩm đến thầy Tỳ-khưu, Tăng có việc phải đi nơi khác (Gamikabhattaṃ).

10. Phép dâng cúng thực phẩm đến thầy Tỳ-khưu, Tăng có bịnh (Gilānabhattaṃ).

11. Phép dâng cúng thực phẩm đến thầy Tỳ- khưu, Tăng, dưỡng bịnh cho Tỳ-khưu, Tăng cùng nhau (Gilānupaṭṭhākabhattaṃ).

12. Phép dâng cúng thực phẩm thường thường đến thầy Tỳ-khưu, Tăng (Niccabhattaṃ).

13. Phép dâng cúng thực phẩm đến thầy Tỳ-khưu, Tăng, tại chỗ ở, nhứt là tại thất (Kuṭikabhattaṃ).

14. Phép dâng cúng thực phẩm đến thầy Tỳ-khưu, Tăng theo phiên mà mình đã hứa chịu cúng (Vārakabhattaṃ).

Trong 14 phép dâng cúng thực phẩm này, nếu thí chủ muốn dâng cúng theo phép nào, thì phải nêu cái hiệu phép ấy bằng tiếng Pāli và nghĩa vào chỗ dấu (...) móc đầu câu, mà đọc, để dâng cúng:

Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa.

(đọc ba lần)

Ayaṃ no bhante piṇḍapāto dhammiko dhammaladdho dhammeneva uppādito mātāpitu- ādike guṇavante uddissa imaṃ (...) saparikkhāraṃ buddhappamukkhassa saṅghassa dema te guṇavantādayo imaṃ (...) attano santakaṃ viya maññamānā anumodantu anumoditvāna yathicchitasampattīhi samijjhantu sabbadukkhā pamuñcantu iminā nissandena.

Nghĩa:

Bạch Đại Đức Tăng được rõ: những thực phẩm này của chúng tôi làm, hiệp theo lẽ đạo, được cũng hiệp theo lẽ đạo, chúng tôi xin hồi hướng cho các vị ân nhân của chúng tôi, nhứt là cha mẹ chúng tôi, chúng tôi dâng những thực phẩm này gọi là lễ (... tên cái lễ) có cả món ăn phụ tùng, dâng cúng đến Chư Tăng, xin Phật chứng minh, Xin cho các vị ân nhân của chúng tôi, nhứt là cha mẹ chúng tôi hay biết rằng: phước báu của lễ (... tên cái lễ) này về phần các vị đó và xin các vị đó được phép thọ hưởng tùy ý. Khi thọ hưởng rồi, thì được thoát khỏi những điều lao khổ và được kết quả làm ngưôi, quả trời cùng quả Niết-Bàn, và cho được như ý muốn của các vị ân nhân của chúng tôi nhứt là cha mẹ chúng tôi, do theo phước báu chảy vào không dứt.

Lần thứ nhì, lần thứ ba. (lạy)

*

* Nếu dâng cúng Bốn món vật dụng đến Chư Tăng thì đọc:

Mayaṃ bhante ime cattāro paccaye idhānetvā saṅghassa dema sādhu bhante saṅgho ime cattāro paccaye paṭiggaṇhātu amhākaṃ dīgharattaṃ atthāya hitāya sukhāya.

Dutiyampi... Tatiyampi...

Nghĩa

Bạch Đại Đức Tăng, chúng tôi xin kính dâng bốn món vật dụng này đến Chư Tăng.

Cầu xin Đại Đức Tăng nhận lãnh bốn món vật dụng này, cho chúng tôi được sự tấn hóa, sự lợi ích, sự yên vui lâu dài.

Lần thứ nhì, lần thứ ba. (lạy)

*

* Nếu dâng Bốn món vật dụng đến thầy Tỳ-khưu thì đọc:

Mayaṃ bhante ime cattāro paccaye idhānetvā āyasmato dema sādhu bhante āyasmā ime paccaye paṭiggaṇhātu amhākaṃ dīgharattaṃ atthāya hitāya sukhāya.

Dutiyampi... Tatiyampi...

Nghĩa

:

Bạch Ngài, chúng tôi đem bốn

Fri 26 December 2008
 

Phần III

PHÁP TRÍCH LỤC

GIẢI VỄ TÍCH NHÂN QUẢ TÓM TẮT

Trong kinh có chép lời Đại Đức A-Nan nói: "Ta thiệt có nghe như vầy: Một thuở nọ, Phật ngự nơi tịnh xá, trong đám cây ông Kỳ-Đà Thái tử, vườn ông Cấp Cô Độc, tại thành Xá-Vệ, có một người thiếu niên tên Subha con của ông Todeyya đi đến chổ Phật ngự, vào đảnh lễ và bạch rằng:

Bạch Đức Thế Tôn, tại duyên cớ nào mà con người sanh ra,

- có kẻ chết sớm, người lại sống lâu;
- có kẻ nhiều bịnh, người lại ít bịnh;
- có kẻ vô duyên, người lại hữu duyên;
- có kẻ thế cô, người lại quyền lớn;
- có kẻ bần cùng, người lại phú túc;
- có kẻ thấp hèn người lại cao sang;
- có kẻ bất tài, người lại trí thức.

Bạch Đức Thế Tôn, tại duyên cớ nào mà con người sanh ra, lại có bực sang hèn khác nhau như vậy?

- Người thiếu niên nầy! ấy cũng bởi nhân quả mà ra, cái nhân lành mà con người đã tạo, thì con người hưởng lấy; cái nhân dữ mà con người đã gây, thì con người mang lấy. Cái nhân là mẹ sanh ra con người cao sang hay là hèn hạ vậy.

- Bạch Đức Thế Tôn, Ngài nói vắn tắt thế ấy tôi chưa được trọn hiểu cái lý nhân quả cao siêu, cúi xin Đức Thế Tôn giảng giải rộng thêm cho tôi được tột rõ lý nhân quả, bằng một cách dễ dàng hơn.

- Người thiếu niên nầy! vậy ngươi ráng lắng nghe.

- Bạch Ngài tôi hết lòng xin nghe.

Phật bèn giải rằng:

1/- Người yểu tử:

Đây, người thiếu niên nầy! kẻ nào trai hay gái, ham sự chém giết, quen thói sát sanh, không lòng nhân từ cùng loài động vật, bởi cách hành động chẳng lành ấy, sau khi thác, do cái nhân dữ đã gieo nên phải đọa vào địa ngục, nhưng nếu tái sanh lại làm người, thì chết yểu tử.

2/- Người trường thọ:

Đây, người thiếu niên nầy! trái lại kẻ nào trai hay gái, không lòng chém giết, giữ giới sát sanh, tay không cầm khí giới, hằng sợ tội lỗi, có lòng nhơn từ cùng loài động vật, người đó, bởi cách hành động lành ấy, sau khi thác, do cái nhân lành đã gieo, nên được sanh trong thượng giới, nếu tái sanh lại làm người, thì được trường thọ.

3/- Người nhiều tật bệnh:

Đây, người thiếu niên nầy! kẻ nào, trai hay gái, tánh tình hung dữ, thường đánh đập những loài động vật bằng tay, hoặc bằng cây, hoặc bằng khí giới, người đó, bởi cách hành động chẳng lành ấy, sau khi thác do cái nhân dữ đã gieo, nên phải đọa vào địa ngục, nhưng nếu tái sanh lại làm người, thì thường hay đau ốm.

4/- Người thường mạnh khỏe:

Đây, Người thiếu niên nầy! trái lại kẻ nào trai hay gái, tâm tánh hiền từ, không hay đánh đập những loài động vật, bằng tay, hoặc bằng cây, hoặc bằng khí giới, người đó bởi cách hành động lành ấy, sau khi thác, do cái nhân lành đã gieo, được sanh trong thượng giới, nhưng nếu tái sanh lại làm người, thì thường được mạnh khoẻ.

5/- Người vô duyên:

Đây, người thiếu niên nầy! kẻ nào trai hay gái, lòng hay nóng giận, bất bình, hét la, mỗi chút mỗi gắt gỏng, người đó bởi cách hành động chẳng lành ấy, sau khi thác, do cái nhân dữ đã gieo, phải đọa vào địa ngục, nhưng nếu tái sanh lại làm người, thì thường hay buồn bực, mặt mày xấu xa.

6/- Người hữu duyên:

Đây, người thiếu niên nầy! trái lại kẻ nào trai hay gái, không lòng nóng giận, chẳng dạ bất bình, hét la, cằn nhằn, người đó bởi cách hành động lành ấy, sau khi thác, do cái nhân lành đã gieo, được sanh trong thượng giới, nhưng nếu tái sanh lại làm người, thì sắc mặt thường hay vui vẻ xinh đẹp.

7/- Người thế cô:

Đây, người thiếu niên nầy! kẻ nào trai hay gái, thấy người khác giàu sang, danh tiếng, được thiên hạ kiêng vì yêu mến, tùng phục, mà sanh lòng ao ước ganh gổ, người đó, bởi cách hành động không lành ấy, sau khi thác, do cái nhân dữ đã gieo, phải đọa vào địa ngục, nhưng nếu tái sanh lại làm người, thì phải chịu thế cô quyền yếu.

8/ - Người quyền lớn:

Đây, người thiếu niên nầy! Trái lại kẻ nào trai hay gái, không lòng ganh gổ, thấy người khác giàu sang, danh tiếng, được thiên hạ kính vì, yêu mến, tùng phục mà không lòng ao ước, ghét ghen, người đó, bởi cách hành động lành ấy, sau khi thác, do cái nhân lành đã gieo thì được sanh trong thượng giới, nhưng nếu tái sanh lại làm người thì được quyền cao thế trọng.

9/ - Người bần cùng:

Đây, người thiếu niên nầy! kẻ nào trai, hay gái, không lòng bố thí vật ăn, nước uống, thuốc men, y phục, giường nằm, chỗ ở, dầu đèn cho các bậc Sa Môn, hay Bà la môn; người đó, bởi cách hành động chẳng lành ấy, sau khi thác, do cái nhân dữ đã gieo, phải đọa vào địa ngục, nhưng nếu tái sanh lại làm người, thì phải bần cùng khổ não.

10/- Người phú túc:

Đây người thiếu niên nầy! kẻ nào trai, hay gái, thường hay bố thí vật ăn, nước uống, thuốc men, y phục, nơi nằm, chỗ ở, dầu đèn cho các bậc Sa môn hay Bà la môn; người đó, bởi cách hành động lành ấy, sau khi thác, do cái nhân lành đã gieo, được sanh trong thượng giới, nhưng nếu tái sanh lại làm người, thì được giàu có.

11/- Người hèn hạ:

Đây, người thiếu niên nầy, kẻ nào trai hay gái, có lòng khinh rẻ, không chào hỏi những người đáng chào, không nhường chỗ cho những người đáng nhường; không nhường đàng cho những người đáng nhường, không kính trọng những người đáng kính trọng, người đó, bởi cách hành động chẳng lành ấy, sau khi thác do cái nhân dữ đã gieo, phải đọa vào địa ngục, nhưng nếu tái sanh lại làm người, thì phải chịu bề hèn hạ.

12/- Người cao sang:

Đây, người thiếu niên nầy! kẻ nào trai hay gái, không lòng khinh rẻ, hay chào hỏi những người đáng chào, tiếp rước những người đáng tiếp rước, nhường chỗ ngồi cho những người đáng nhường, nhường đàng đi cho những người đáng nhường, kính trọng những người đáng kính trọng, người đó, bởi các hành động lành ấy, sau khi thác, do cái nhân lành đã gieo, được sanh trong thượng giới, nhưng nếu tái sanh lại làm người thì được sang cả.

13/- Người bất tài:

Đây người thiếu niên nầy! kẻ nào trai hay gái, không tìm kiếm các thầy Sa môn hay Bà la môn để học hỏi như vầy: Bạch thầy, đạo đức là thế nào? Lành là thế nào? Dữ là thế nào? Điều nào đáng chê? Điều nào đáng khen? Điều nào nên làm? Điều nào không nên làm? Làm điều nào cho tôi được trong sạch và yên vui? Người đó bởi cách hành động chẳng lành ấy, sau khi thác, do cái nhân dữ đã gieo, phải đọa vào địa ngục, nhưng nếu tái sanh làm người thì phải chịu bề dốt nát.

14/- Người trí hóa:

Đây người thiếu niên nầy! trái lại kẻ nào trai hay gái, có lòng tìm kiếm học hỏi nơi các bậc Sa môn hay Bà la môn như vầy: Đạo đức là thế nào? Lành là thế nào? Dữ là thế nào? Điều nào đáng khen? Điều nào đáng chê? Điều nào nên làm? Điều nào làm cho tôi trong sạch và được yên vui? Người đó bởi cách hành động lành ấy, sau khi thác, do cái nhân lành đã gieo, thì được thăng thượng giới, nhưng nếu tái sanh lại làm người, thì được thông minh trí tuệ.

Người thiếu niên nầy, chúng sanh tạo nhân lành thì được hưởng quả lành; bằng gây nhân dữ, thì phải mang quả khổ: cái nhân là mẹ của chúng sanh. Chúng sanh được cao thăng hay bị sa đọa cũng do nơi cái nghiệp mà ra vậy.

Nghe Đức Thế Tôn giải xong rồi, người thiếu niên Subha, con của ông Todeyya, bèn bạch cùng Phật rằng: Hoàn toàn thay, Đức Thế Tôn! cũng như kẻ bị trói mà được mở, như kẻ lầm đàng mà được thấy nẻo chánh, như kẻ mù mà được sáng; như nơi tối mà được đèn, Bạch Đức Thế Tôn, nhờ Ngài chỉ dạy cái lý nhân quả rất phân minh nên tôi mới được rõ thông đàng ngay nẻo vạy. Tôi tình nguyện Quy y Phật, Quy y Pháp, Quy y Tăng, xin Đức Thế Tôn nhận chịu cho tôi là kẻ thiện nam, kể từ nay cho đến trọn đời của tôi".

Lấy đó mà xét thì chúng ta phải tin chắc rằng có nhân tất có quả, làm lành ắt gặp lành, làm dữ phải gặp dữ, một mảy chẳng sai.

Vậy, nếu tin nhân quả báo ứng thì chúng ta nên mau mau hồi tâm hướng thiện Quy y Tam Bảo cho kịp thời.

DỨT TÍCH NHÂN QUẢ TÓM TẮT

*

PHÁP THƯỜNG TỰ HÓA (Attānusāsanī)

Đức Phật có giải trong kinh Saṃyuttanikāya rằng Natthi attasamaṃ pesaṃ: Không thương cái chi cho bằng thương cái TA. Tiếng gọi là TA ấy, Phạn ngữ gọi là ATTA hay là ATMAM là để chỉ về cái TÂM vậy. Bởi tâm nương theo thân, nên mới có suy nghĩ đến điều quấy sự phải, biết lẽ tà điều chánh. Thân và tâm nương lẫn nhau mới hay cử động được, nhơn đó mới hiệp thân và tâm lại gọi là TA vậy.

Lẽ thường, thiên hạ đều thương cái TA hơn cả mọi vật, chẳng có một ai là ngươi mến yêu nhân vật nào khác cho bằng hoặc hơn cái TA. Chẳng cần nói đến người có nhan sắc xinh đẹp, dầu là kẻ tàn tật (cùi, phong, mù, điếc), họ cũng vẫn thương cái TA hơn hết. Cho đến chồng vợ, con cháu, vàng bạc, châu báu, đều là cái đáng thân thiết lắm, mà họ cũng chẳng thương hơn cái TA của họ được.

Tất cả mọi người trên thế gian đều làm đủ các công nghệ, là họ chỉ mong được lợi ích cho cái TA.

Như kẻ lao công, thầy thuốc, buôn bán, công chức, tư chức, các ty, các sở, các ngành, thì họ cũng đều trông được sự ích lợi cho cái TA trước.

Cho nên Đức Phật Thích Ca có giải rằng: Không thương vật chi cho bằng thương cái TA, là lẽ như vậy.

Con người làm những việc gì, là chỉ mong mỏi được sự hạnh phúc cho cái TA. Nhưng phần đông hằng để ý chuyên về điều danh lợi nhãn tiền, không lòng lo xét đến sự lợi ích hậu lai; có kẻ đã chẳng tìm làm việc phước đức, nhứt là không Bố thí, Trì giới, mà lại còn để cho thân, khẩu, ý xu hướng theo Nghiệp dữ, nên phải mang quả khổ từ đời nầy, đến kiếp sau, mà vẫn chưa tự tỉnh. Cách hành động như thế không gọi là thương cái TA được. Dường ấy Đức Phật thuyết là ghét cái TA vậy.

Cho nên các bậc Thiện trí thức, khi đã rõ rằng: "Nếu TA thật thương TA, TA phải sớm mau hồi đầu hướng thiện, bỏ dữ về lành, tránh xa tam độc là tham, sân, si, không nên để cho phiền não, lấm nhơ đến tâm trí ta vậy. Vả lại sanh mạng con người và súc sanh vẫn không bền vững lâu dài; cái già, cái đau, cái chết hằng ở trước mắt. Nếu Ta dễ duôi hoặc tà kiến lầm tưởng rằng: Ta chưa chết sớm, thì làm cho Ta lại càng chìu theo cái vọng tâm, thi hành những nghiệp dữ chẳng sai. Nếu trong lúc Ta dể duôi lầm lạc ấy mà nhằm ngày mạng chung, dầu Ta có muốn tạo việc lành chăng nữa thì cũng khó làm cho kịp được, (bởi cái tâm chưa quen tạo nghiệp lành).

Lại nữa cái chết là một cái khổ lớn nhứt. Như vậy lẽ nào ta còn dễ duôi, không lo tìm con đàng để tránh trước nghĩa là phải Bố thí, Trì giới, Tham thiền, hoặc niệm Phật cho tinh tấn, trong lúc sinh thời đây, đến khi cái chết đến, chắc phải loạn động, thì cái thân người ắt mất, phải bị đọa một trong 4 đường dữ (súc sanh, a-tu-la, ngạ quỉ, địa ngục) chẳng sai, khó trở lại làm người nữa được. (Hiệp theo trong Nho có câu: "Nhứt thất nhơn thân, vạn kiếp nan tái phục".

Vậy Ta phải hết lòng thương tiếc đến Ta cho lắm, phải nhớ đến câu: vạn kiếp nan sanh đắc cá nhơn (muôn kiếp khó sanh đặng làm người). Cho nên Đức Phật có giải trong kinh Khuddanikāya rằng:

Kiccho manussapaṭilābho,
Kicchaṃ maccāna jīvitaṃ,
Kicchaṃ saddhammassavanaṃ,
Kiccho buddhānamuppādo.

Nghĩa

Về bốn điều khó trên đây Đức Phật có giải rằng:

1. Khó được sanh ra làm người,
2. Sanh ra làm người rồi khó được sống lâu,
3. Được sống lâu rồi, khó được nghe Phật Pháp.
4. Khó được gặp Đức Phật.

Chỗ nói khó được sanh ra làm người ấy có giải rằng: Chúng sanh được đầu thai làm người, thật là chẳng dễ, thật là rất khó. Chỉ phải một lòng tinh tấn làm việc phước đức cho nhiều, thì mới có thể trở lại làm người nữa được. Đã sanh ra làm người rồi, mà cũng khó được toàn vẹn, bởi con người có 4 hạng:

1. Manussanerayiko, là người như kẻ Địa ngục.
2. Manussapeto, là người như Ngạ quỉ.
3. Manussatiracchāno, là người như Súc sanh.
4. Manussabhūto, hay là Manusso, là người thật.

Người như kẻ địa ngục là bởi kiếp trước làm việc chẳng lành, nhứt là phạm tôị sát sanh bị cắt tay hoặc cụt chơn, phải chịu điều khổ não hằng ngày. Hạng người như đây, gọi là như chúng sanh trong địa ngục, là người cũng có thân thể như ai, nhưng phải chịu lao khổ như kẻ ở địa ngục.

Hạng người không thể hưởng vật thực ngon ngọt được, là do kiếp trước đã làm nhiều nghiệp dữ, nên nay bị đói khát khó khăn, cùng cực, không nơi nương dựa. Hạng người như đây gọi là như Ngạ quỉ, là người cũng có thân thể như ai, nhưng hằng bị đói khát, khổ cực như quỉ đói.

Lại có người để dùng về việc khiêng, gánh, kéo, vác nặng nề cho kẻ khác, làm những điều tội lỗi, hằng bị người nạt nộ, đánh chưởi, bị sự mệt nhọc, buồn lo, không phân biệt phải quấy, không lòng hổ thẹn, lánh dữ làm lành. Hạng người như đây, gọi là súc sanh, là người cũng có thân thể như ai, nhưng phải làm những việc tội lỗi không lòng hổ thẹn ăn năn, chẳng khác nào súc vật.

Hạng người rõ biết gốc ngọn, điều tội việc phước, tin lý nhân quả, vì hổ thẹn và ghê sợ tội lỗi, có lòng từ bi, tránh xa nghiệp dữ một lòng tinh tấn tu theo thập thiện. Người mà hành động như nói đây, mới gọi là người thật, đã có thân hình đều đủ, mà lại còn biết Bố thí, Trì giới vân vân...

Bởi có nhiều duyên cớ khó sanh ra đặng làm người cho vẹn toàn, nên Đức Phật có nói: Kiccho manussapaṭilābho: Được sanh ra làm người là một sự rất khó, mà đã sanh ra làm người rồi muốn gìn giữ cho được sống lâu lại là một việc rất khó; vì sanh mạng của người và cầm thú rất là mỏng manh, thân mình rất mau hư hoại, tuy cố gắng trau giồi săn sóc thuốc men thì cái sống cũng chẳng đặng lâu dài.

Nghĩa

Lại nữa, dầu có sống lâu cũng khó mà nghe được giáo pháp của bậc Thiện trí thức giảng giải lẽ chánh lời ngay. Rất khó được dịp may mà gặp Phật ra đời. Chẳng có cái khó nào sánh bằng cái tu cho thành bậc Chánh giác, vì phải chí công chí đức, tu tròn đủ 30 pháp thập độ.

Phương pháp chứng bậc Phật Toàn Giác có ba hạng:

1.- Paññādhika, do nhiều trí tuệ, tu 4 A-tăng-kỳ và 100.000 kiếp mới chứng quả.
2.- Saddhādhika, do nhiều đức tin, tu 8 A-tăng-kỳ và 100.000 kiếp mới chứng quả.
3.- Viriyādhika, do nhiều tinh tấn, tu 16 A-tăng-kỳ và 100.000 kiếp mới chứng quả.

Chỗ nói kiếp là chỉ về cái hiệu tuổi của trái đất.

Phật có giải cho các thầy Tỳ-khưu rằng: Các thầy Tỳ-khưu nầy! tiếng nói Kiếp ấy chẳng phải đến trăm hoặc ngàn năm mà được đâu, chỉ phải hiểu bằng cách thí dụ mới đặng. Các thầy Tỳ-khưu nầy! Ví như một đống hột cải cao lớn một do tuần vuông vức bốn góc bằng nhau, đến 100 năm mới có một người đến lấy hột cải trong đống ấy ra, như vậy cho đến hết, mới gọi là một kiếp.

Bốn A-tăng-kỳ là một Đại A-tăng-kỳ.

Trong kinh Paramatthadīpanī atthakathā cariyā piṭaka có giải phân minh. Đây chỉ nói tóm tắt cho biết thời kỳ có 1 vị Phật Tổ ra đời chẳng phải là dễ, thật là vô lượng vô biên kiếp mới có. Chỉ phải cố gắng tu hành cho tinh tấn, trọn đủ pháp thập độ, mới có thể chứng quả Phật được, bằng tu còn thiếu sót một chút cũng khó thành bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Như lúa trong ruộng, nếu chưa đến kỳ thì cũng chưa có thể trổ bông, sanh hột được. Cho nên Đức Thế Tôn có thuyết rằng: Kiccho budhānamuppādo, nghĩa là cách ra đời của 1 vị Phật Tổ là một sự khó.

Nay chúng ta sanh ra làm người, đã được mạnh khỏe thêm gặp Phật Pháp (Tam Tạng) là Phật ngôn rất quí báu ví như mình gặp được Đức Phật vậy, tức là mình đã khỏi 4 điều khó đã kể trên, là mình rất hữu phước. Đó là một dịp may rất quí cho chúng ta phải sớm mau hướng thiện: Bố thí, Trì giới, Tham thiền, niệm Phật, học hỏi chơn lý cho chu đáo ngõ hầu trau dồi thân tâm trong lúc hiện thời, cho kịp kỳ, chớ nên say mê theo lục dục làm cho mất cái thân người đi, thì ắt khó kiếm lại được. Ví như người có thuyền bè xe cộ, không lẽ để cho nó hư mục, tan rã, phải nên dùng nó để chở chuyên hàng hóa, đi buôn lấy lời; cũng như chúng ta có cái thân người không lẽ để cho nó già, để cho nó chết vô ích, cần phải dùng nó làm việc lợi ích nghĩa là phải sớm mau tỉnh ngộ, hồi đầu hướng thiện, lánh dữ làm lành, Bố thí, Trì giới, để hưởng cái quả vui trong đời này và kiếp sau.

Lại nữa, những người có làm việc lành như là Bố thí, Trì giới, mới đáng gọi là người biết thương TA.

Đức Phật có giải rằng:

Attānañce piyaṃ jaññā,
Rakkheyya naṃ surakkhitaṃ,
Tiṇṇaṃ aññataraṃ yāmaṃ,
Paṭijaggeyya paṇḍito.

Nghĩa:

Hỏi

Đáp

Kinh Saṃyuttanikāya có nói lúc Đức Phật Thế Tôn ngự tại thành Xá Vệ, có Đức vua Pasenadi Kosala ngự đến làm lễ Phật và bạch rằng: Tôi có suy nghĩ rằng, những người hành theo Tam nghiệp tội (thân, khẩu, ý ác), thì không gọi là thương TA đâu, dầu họ có nói thương TA, thì cũng gọi là ghét TA. Trừ phi những người hành theo Thập thiện, thì mới đáng gọi là thương TA cho vậy.

Đức Thế Tôn đáp: Phải rồi, Đại Vương! Phải như vậy rồi, chúng sanh nào hành theo thân, khẩu, ý ác, thì chúng sanh đó đều là người chẳng phải thương cái TA, phải gọi là ghét cái TA vậy. Dầu là họ nói là thương cái TA, thì cũng gọi là ghét cái TA thật. Những chúng sanh nào hành theo Thập thiện, mới nên gọi là thương cái TA thật.

Cớ ấy, những bậc Thiện trí thức, nếu đã biết thương cái TA, thì phải tránh xa Nghiệp dữ tu theo Thiện nghiệp cho tinh tấn, để hưởng hạnh phúc trong đời nầy và đời sau.

Kinh Khuddakanikāya có nói:

Nagaraṃ yathā paccantaṃ,
Guttaṃ santarabāhiraṃ,
Evaṃ gopetha attānaṃ,
Khaṇo ve mā upaccagā,
Khaṇātītā hi socanti,
Nirayamhi samappitā.

Nghĩa

GIẢI RẰNG:

Chỗ nói trau giồi thân tâm cho lành, như nhà vua sửa trị trong nước ấy, có so sánh và thí dụ như sau nầy:

Lẽ thường nhà vua (lúc xưa) ngăn ngừa đạo tặc trong nước do theo 7 cách:

1.- Esikā: Đóng cột cừ cho sâu, cho thật chắc.
2.- Parikkhāro: Đào hào chung quanh cho sâu.
3.- Anupariyayāpatho: Làm tường theo trong lũy cho dày và cao, cho binh núp để cự giặc.
4.- Bahumā vudhaṃ: Tích trữ khí giới cho nhiều.
5.- Bahubalakāyo: Mộ binh cho đông.
6.- Dovāriko: Có lính canh gác cửa thành cho nghiêm nhặt.
7.- Pākāro: Đắp lũy chung quanh.

Xứ nào mà nhà nước cai trị theo 7 điều ấy, thì nhơn dân sẽ được an cư, không bị giặc giã quấy rối, lại thêm đầy đủ bốn món vật thực như sau nầy:

1.- Có cây trái nhiều.
2.- Có lúa nếp nhiều.
3.- Có mè đậu nhiều.
4.- Có sữa đặc, sữa tươi, dầu, mật ong, nước mía nhiều.

Ví như các bậc tu Phật, nên trau giồi thân tâm theo 7 phép là:

1.- Saddho: Đức tin Tam bảo.
2.- Hirimā: Hổ thẹn nghiệp dữ.
3.- Ottappī: Ghê sợ nghiệp dữ.
4.- Bahussuto: Học hỏi và rõ thông Phật Pháp cho nhiều.
5.- Āraddhaviriyo: Tinh tấn trong việc lành.
6.- Satimā: Ghi nhớ việc lành để trau giồi thân tâm cho thanh tịnh.
7.- Paññavā: Trí huệ xem thấy lẽ hiệp tan của Ngũ uẩn.

- Nếu bậc tu Phật hành theo 7 phép ấy thì sẽ được an vui, không bị phiền não quấy loạn hằng đắc tứ định (sơ định, nhị định, tam định, tứ định).

- Chỗ nói không nên bỏ qua thời kỳ ấy, là chỉ về 4 thời kỳ quý báu là:

1.- Thời kỳ đức Phật chứng quả,
2.- Thời kỳ mình được sanh nơi trung ương Ấn độ.
3.- Thời kỳ có chánh kiến.
4.- Thời kỳ mình có đủ lục căn.

Nay hai thời kỳ trên đã qua rồi, nhưng chúng ta vẫn còn hữu duyên lắm, là chúng ta gặp được Phật Pháp, mà gặp Phật Pháp tức là gặp Phật vậy. Tuy Phật đã nhập Niết-Bàn, nhưng Ngài còn để Giáo Pháp lại. Pháp là lời Phật ngôn đã giáo truyền trong khi ngài còn tại thế, cho nên nói "Pháp" tức là Phật vậy. Dầu chúng ta không được sanh nơi Trung Ấn độ thì cũng ví như được sanh trong xứ ấy, vì xứ ta nay có đủ Tam Tạng (Kinh, Luật, Luận).

- Phần đông chúng ta đều tín ngưỡng nơi Phật pháp, gọi là chúng ta có Chánh kiến, thêm có lục căn tròn đủ, thì chúng ta đều là người rất hữu phước. Vậy phải nên trau giồi thân tâm cho trong sạch, chẳng nên dể duôi bỏ qua việc lành. Phải tu thân, khẩu, ý, cho thanh tịnh, cũng như nhà vua sửa trị nhân dân, được an cư, có đào hầm đắp lũy, tích trữ khí giới, vân vân...

- Lại nữa, nếu chúng ta là người biết thương cái TA, và muốn được hưởng quả Niết-Bàn, là nơi cực lạc trong đời vị lai, thì phải dứt bỏ việc dữ, hành theo điều lành, mới có thể hưởng sự an vui, y theo lời Phật có dạy rằng:

Dunniggahassa lahuno,
Yattha kāmanipātino,
Cittassa damatho sādhu,
Cittaṃ dantaṃ sukhāvaham.

Nghĩa

GIẢI RẰNG:

Tâm mà bị sự chẳng lành, nhứt là điều thương mến đã phát khởi lên, thì Nghiệp dữ ắt sanh, nhứt là phạm sát sanh, nói dối, hành ác, hoặc nói dữ, ắt bị mang quả khổ trong đời nầy và đời sau. Dầu quả báo chưa đến kịp trong kiếp hiện tại, nó cũng sẽ đến trong kiếp vị lai chẳng sai.

Ví như con chó săn đuổi theo kịp con thịt rừng giờ nào, nó sẽ ăn tươi giờ ấy; ví như bánh xe lăn theo chân con bò kéo xe vậy, y như Đức Phật có giải trong kinh Khuddhakanikāya rằng:

Manopubbaṅgamā dhammā,
Manoseṭṭhā manomayā,
Manasā ce paduṭṭhena,
Bhāsati vā karoti vā,
Tato naṃ dukkhamanveti,
Cakkaṃ' vā vahato padaṃ

Nghĩa

Người nào được học hỏi, thông rõ nghĩa lý Phật Pháp và đã thọ trì theo, thì việc làm hoặc lời nói của người ấy đều là lành cả. Người ấy hằng được quả vui chẳng dứt, y theo lời Phật ngôn rằng:

Manopubbaṅgamā dhammā,
Manoseṭṭhā manomayā,
Manasā ce pasannena,
Bhāsati vā karoti vā,
Tato naṃ sukhamanveti,
Chāyā' va apanāyinī.

Nghĩa

Cho nên những bậc thiện hữu trí thức hằng chuyên cần trau giồi tánh nết ở theo chánh pháp, cho thân khẩu, ý thường được trong sạch, nếu tâm đã trong sạch thì thân và khẩu đều trong sạch, ví như người cầm lái thuyền sáng trí lẹ làng thì có thể làm cho thuyền được đi ngay thẳng và mau đến bến, bằng một cách dễ dàng, không sợ lầm lạc. Nhưng sửa trị cái tâm cho ngay lành là một điều rất khó. Bởi cái tâm hằng tráo trở xao động bề này, thế kia, cho nên nói sự tu tâm chẳng dễ vậy. Y theo lời Phật rằng:

Phandanaṃ capalaṃ cittaṃ,
Durakkhaṃ dunnivārayaṃ,
Ujuṃ karoti medhāvī,
Usukāro' va tejanaṃ.

Nghĩa:

GIẢI RẰNG:

Đức Thế Tôn có giảng giải về cái tâm thật là rất khó trị. Bởi cái tâm hằng xao động, tráo trở, quyến luyến theo lục trần cho nên khó giữ gìn, ngăn ngừa cho nó yên lặng được. Dầu muốn cho nó ở yên trong một nháy mắt cũng khó đặng. Ví như đứa trẻ vừa mới biết ngồi, vừa mới biết đi, biết chạy, thì khó mà gìn giữ cho nó ở yên trong một oai nghi được lâu dài, hoặc ví như con bò không thuần, hay ăn lúa mạ nơi đàng chật hẹp, thì khó cho chủ ngăn ngừa, chặn giữ không cho nó ăn lúa mạ được.

Tuy rằng cái tâm rất khó sửa trị, như đã nói trên, nhưng các bậc Thiện trí thức, tu cái tâm ấy được trở nên ngay lành, do nhiều phương pháp khác nhau. Ví như anh thợ làm cung tên, đi vào rừng đốn cây, lột vỏ xong đem về ngâm nước cơm, hoặc cho thấm dầu rồi đem hơ lửa cho cây ấy mềm mại, rồi đóng nọc, để uốn sửa cây ấy trở nên ngay thẳng được, làm thành cây tên ngay thẳng, bắn đâu trúng đó, làm cho tiếng đồn thấu đến tai vua, đức vua nghe danh anh thợ ấy có tài, làm cung tên rất khéo, bắn rất hay. Nhà vua bèn ngợi khen và trọng dụng anh thợ ấy và phong cho quyền cao tước cả. Việc nầy cũng ví như bậc Thiện trí thức có tài trí thông rõ Phật Pháp được sửa trị cái vọng tâm, bỏ dữ về lành dứt lòng phiền não, nương theo phép đầu đà, ẩn tu nơi rừng núi, thanh vắng, dùng đức Tin, lòng Từ bi và sự Tinh tấn đễ tu phép Thiền định và Trí tuệ để sửa trị cái tâm trở nên ngay lành, cùng suy cứu cho thấu rõ các sắc tướng đều là Vô thường, Khổ não, Vô ngã, vét sạch cái màn vô minh, tà kiến, đắc Lục thông chứng quả Bồ đề, là bậc đáng cho tất cả chúng sanh, trời người v.v... lễ bái cúng dường; ấy mới đáng là nhà tu Phật vậy. Phương pháp tu cái tâm cho trở nên trong sạch, thật là quí báu. Bởi cái tâm con người hằng quyến luyến theo 5 phép cái (Nīvaraṇadhamma).

1.- Tham luyến ngũ trần (Kāmachanda).
2.- Oán hận (Byāpāda).
3.- Hôn trầm (Thīnamiddha).
4.- Phóng túng (Uddhaccakukkucca)
.
5.- Hoài nghi (Vicikicchā).

Lẽ thường vàng y, nếu có 1 trong 5 vật: sắt, đồng, kẽm, chì và bạc lộn vào rồi thì làm cho mất sự tinh anh của chất vàng đi. Cũng ví như cái tâm của con người trước kia sáng suốt thanh tịnh đến khi bị 1 trong 5 phép cái nhiễm vào làm cho tâm bất tịnh nên tạo những việc gì đều chẳng được chơn chánh. Tuy vậy, các bậc Thiện trí thức, chẳng khi nào ngã lòng về việc sửa trị cái tâm theo phép Thiền định.

Các bậc hành giả muốn tu phép ấy, trước hết phải chọn 1 trong 40 phép, cho hạp với đặc tính của mình, ví như người có bịnh, nếu muốn uống thuốc cho lành trước phải chọn lựa vị thuốc cho nhằm bịnh rồi mới nên uống, ắt sẽ được mau lành mạnh.

Lại nữa, chẳng phải một vị thuốc mà cứu chữa cả thứ bịnh, cũng như một pháp Thiền định chẳng phải hạp với đặc tính của mọi người. Cớ ấy, bậc hành giả cần phải học cho thông rõ 40 đề mục Thiền định [1] rồi chọn lấy một đề mục, để quán tưởng mới có thể sửa trị cái tâm mau được trở nên trong sạch.

Tiếc vì phạm vi quyển sách này không chứa đủ sự giải thích 40 phép thiền định, mặc dầu là giải tóm tắt cho vừa đủ chi tiết để giúp ích về việc suy cứu của chư thiện tín. Nếu muốn tu Thiền định nên xem "Pháp Chánh định" đã xuất bản rồi

*

GIẢI VỀ PHÁP BỐ THÍ

Dānaṃ nāma iti lakkhaṇāni cāgacetanānañca viratidānañca deyyadhamma dānañcātīti.

Giải rằng: Sự bố thí có ba tướng là:

1.- Tác ý dứt bỏ đem cho (Cāgacetanādāna).
2.- Rứt của ra, đem cho (Viratidāna).
3.- Vật cho (Deyyadhammadāna).

- Tác ý dứt bỏ đem cho là nói về những người có đức tín trong sạch, tính đem của ra cho.

- Rứt của đem cho chỉ về người có đức tin trong sạch, có sự Hổ thẹn (Hiri), và Ghê sợ tội lỗi (Ottappa), tránh xa 5 điều oan trái (Pañca vera), tức là không sát sanh, không trộm cắp, vân vân...

- Vật cho, là nói về cơm, nước, y phục, v.v...

Cả 3 phép Cho ấy phát sanh trong tâm người, đều nuơng theo Trí tuệ chơn chánh và tâm không tham lam (Alobha).

GIẢI RẰNG:

Người có Trí tuệ xét thấy tội phước, lợi ích, vô ích, nghĩa là hiểu rằng: Bố thí, Trì giới, Tham thiền, vân vân... được phước hằng đem sự yên vui đến cho, như thế gọi là trí tuệ chơn chánh. Người rõ rằng có tội, nghĩa là: sát sanh, trộm cướp, vân vân..., thì phải mang quả khổ, như vậy, gọi là trí tuệ chánh kiến. Nhờ có trí tuệ chánh kiến và tác ý không tham lam (Alobhacetanā), đều đủ cả 2 nhân đó rồi mới tính bỏ của ra, đem cho. Cho mà được phước nhiều là do 3 tác ý, là:

1.- Tác ý trong sạch đầu tiên, tính cho các vật dụng, nhứt là cơm, nước (Pubbacetanā).
2.- Tác ý trong sạch trong khi đương cho (Muñcanacetanā).
3.- Tác ý trong sạch sau khi đã cho rồi (Aparāparacetanā), tâm thường vui thích.

Cả ba tác ý đó gọi là đều đủ Tác ý (Cetanā sampadā). Đều đủ vật dụng (Vatthusampadā) là nói về cơm, nước, thuốc men, chỗ ngủ mà thí chủ đã tìm được theo lẽ đạo, nghĩa là: không vì sát sanh, không vì trộm cắp được mà cho.

Thí chủ, người cho, có 2 chi:

1.- Đều đủ tác ý
2.- Đều đủ vật dụng.

Thọ chủ, người lãnh, có 2 chi:

1.- Quả đều đủ (Phalasampadā), tức là bậc A-la-hán.
2.- Đức đều đủ (Guṇātirekasampadā), tức là bậc mới xuất định.

Sự cho đều đủ cả 4 chi là: người cho hai chi, người thọ hai chi, thì được quả phước trong 7 ngày.

Lại nữa, sự cho đều đủ theo 6 chi, sẽ được nhiều phước là: tác ý cho về cá thể (Puggalika: riêng một thể) có 3 chi, tác ý cho về đoàn thể (Saṅgha: nhiều người kết hợp thành đoàn) có 3 chi.

Cá thể thí là (Paṭipuggalikadāna) cho theo ý muốn mình. Đoàn thể thí (Saṅghadāna) là dâng cúng đến Tăng.

Cá Thể Thí (Puggalikadāna), có 14 cách:

1.- Cho đến loài cầm thú.
2.- Cho đến người không có giới hoặc phá giới.
3.- Cho đến người có giới (Cư sĩ ).
4.- Cho đến Đạo sĩ [2] (vì chán nản cuộc đời giả tạm mà tu).
5.- Dâng cúng đến 10 bậc Thánh nhân (từ bậc Tu-đà-hườn đạo, đến Đức Phật toàn giác).

Cá thể thí được nhiều phước, cần phải có đủ 6 chi, là: thí chủ, người cho có đủ ba tác ý. Thọ chủ, người lãnh, có tâm không tham, không sân, không si, hoặc có sự tinh tấn tu hành để dứt tham, sân, si.

Đoàn Thể Thí là dâng cúng đến 7 bậc Tăng:

1.- Dâng cúng đến Tỳ-khưu Tăng, Tỳ-khưu-Ni Tăng, có Đức Phật tọa chủ.
2.- Dâng cúng đến Tỳ-khưu-Ni Tăng có Phật tọa chủ.
3.- Dâng cúng đến Tỳ-khưu Tăng.
4.- Dâng cúng đến Tỳ-khưu-Ni Tăng.
5.- Xin thỉnh 1, 2, 3 vị Tỳ-khưu Tăng và Tỳ-Khưu-Ni Tăng.
6.- Xin thỉnh 1, 2, 3 vị Tỳ-khưu Tăng.
7.- Xin thỉnh 1, 2, 3 vị Tỳ-khưu-Ni Tăng.

Lại nữa người dâng đến Tăng đó, cần phải chú tâm hướng ngay về bậc Thánh Nhơn, đừng tưởng đến phàm Tỳ-khưu. Khi đã thỉnh Tăng rồi, dầu được vị cao hạ hoặc thấp hạ hoặc Sa-di, cũng đừng bất bình buồn trách, phải giữ tâm bình đẳng, bực trung. Nếu bất bình buồn trách thì không gọi là Tăng thí.

Đoàn thể thí là phép Tăng thí được nhiều phước báo hơn.

Đức Phật có giảng thuyết đến Đại Đức Ānanda trong kinh Dakkhiṇāvibhaṅgasutta, trong dịp bà Gotamī, có tâm trong sạch, đem một cặp y dâng đến Đức Phật. Ngài không thọ lãnh, mà có tâm thương xót dạy bảo dâng cúng đến Tăng. Bà Gotamī, than khóc, đi tìm Đại Đức Ānanda. Ānanda mới vào bạch cầu xin Phật thọ cặp y. Đức Phật bèn giải rằng:

Này Ānanda! Tăng thí có phước nhiều hơn các sự thí, dầu là đến thời mạt pháp, chỉ còn có Gotrabhū Tăng, là Tăng chỉ có mang y theo tay hoặc buộc cổ, làm nghề ruộng rẫy, mua bán, có vợ con. Song các thí chủ có đức tin làm việc Tăng thí, đến thỉnh Tăng từ bốn vị trở lên, chủ tâm hướng đến Thánh Tăng, thì cũng gọi là Tăng thí, được nhiều phước báo, kể A-tăng-kỳ khó tưởng tượng được.

Này Ānanda! Ngươi cho 100 lần đến loài cầm thú cũng không bằng quả phước cho 1 lần đến người phá giới.

Cho 100 lần đến người phá giới, cũng không bằng quả phước cho 1 lần đến người có giới.

Cho 100 lần đến người có giới cũng không bằng quả phước cho 1 lần đến bậc xuất gia trong sạch.

Cho 100 lần đến bậc xuất gia trong sạch cũng không bằng quả phước cúng 1 lần đến bậc Tu-Đà-Hườn (Sotāpanna).

Cúng 100 lần đến bậc Tu-Đà-Hườn, cũng không bằng quả phước cúng 1 lần đến bậc Tư-Đà-Hàm (Sakadāgāmi).

Cúng 100 lần đến bậc Tư-Đà-Hàm cũng không bằng quả phước cúng 1 lần đến bậc A-Na-Hàm (Anāgāmi).

Cúng 100 lần đến bậc A-Na-Hàm, cũng không bằng quả phước cúng 1 lần đến bậc A-La-Hán (Arahanta).

Cúng 100 lần đến bậc A-La-Hán cũng không bằng quả phước cúng 1 lần đến bậc Độc Giác Phật (Paccekabuddha).

Cúng 100 lần đến bậc Độc Giác Phật cũng không bằng quả phước cúng 1 lần đến đức Phật Toàn Giác (Sabbaññūbuddha).

Cúng 100 lần đến Đức Phật Toàn Giác, cũng không bằng quả phước cúng 1 lần đến Chư Tăng. Tăng thì có rất nhiều phước báo, như thế ấy.

Có lời hỏi rằng:

ĐÁP

Lại nữa, dâng đến Tăng thì hằng phổ thông đến tất cả Tỳ-khưu Tăng, từ đức Phật cho đến vị Tỳ-khưu và Sa-di mới xuất gia.

Phép thí lại chia có nhiều cách nữa là:

1.- Tài thí (āmisadāna): là cho của cải.
2.- Pháp thí (dhammadāna): là nói pháp cho người nghe.
3.- Thí theo Thời (kāladāna): là dâng y tắm mưa, y ca sa sau khi Chư Tăng ra hạ; thí của trong cơn đói kém; thí cơm gạo, trái cây mới có đầu mùa; thí thực phẩm đến người từ nơi xa mới đến, hoặc người sắp đi đường xa; đến Tỳ-khưu, Sa-di bịnh.

Về người thí, có chia ra làm ba hạng.

1.- Nô bộc thí (dānadāso), là hạng người tự mình dùng vật quí, đẹp mà đem những vật hèn mọn ra cho, cũng như cho kẻ tôi tớ. (Nô bộc thí thì kiếp sau được vật hèn mọn).
2.- Bằng hữu thí (dānasahāyo), là hạng người tự mình dùng vật thể nào, thì đem vật thể ấy ra cho. (Bằng hữu thí thì kiếp sau được vật bậc trung).
3.- Chủ thí (dānapati, dānasāmi, dānajeṭṭhaka) là hạng người tự mình dùng vật hèn mà đem vật quí ra cho. (Chủ thí thì kiếp sau được vật quí trọng).

Vấn

Đáp:

Chư Phật thường giảng giải về phép Bố thí, Trì giới, Tham thiền vì sự Bố thí là nhân dứt lòng tham, Trì giới là nhân trừ giận, Tham thiền là nhân diệt si mê. Lại nữa, người Bố thí, Trì giới, Tham thiền, hãy nên mong mỏi thiêu hủy cái lòng tham, sân, si để chứng Niết-Bàn dập tắt đều thống khổ, nếu cầu được làm người, hoặc Trời thì hằng bị cái khổ sanh, già, đau, chết, trong vòng luân hồi, hết kiếp nầy sang kiếp khác, vô cùng vô tận.

Sự bố thí hằng đem quả vui trong cõi người là:

1.- Được làm bậc Chuyển Luân Vương (Cakkavattirāja) có 7 vật báu: voi báu, ngựa báu, xe báu, ngọc báu, nữ báu, tướng soái báu và tổng tài chánh báu.
2.- Được làm vị Hoàng Đế.
3.- Được làm bậc triệu phú gia.
4.- Được làm bậc nhà giàu.
5.- Được làm người no đủ.

Đức Giáo Chủ có giải về 5 quả báo của sự bố thí cho quan Thủ Tướng Sīha nghe rằng, thí chủ:

1.- Thường được quần chúng thương yêu.
2.- Thường được nhiều người thân cận.
3.- Thường được người và Chư thiên khen ngợi.
4.- Thường được quyền thế và nhiều kẻ tùy tùng.
5.- Thường không e sợ, có sự dạn dĩ trong chỗ hội họp.

Năm quả báo trên đây, hằng được thành tựu đến thí chủ trong đời nầy, do dứt lòng bỏn xẻn đem của ra cho.

Lại nữa, những người mong tìm đều yên vui trong c&o