Game vui Đọc Truyện Hình ảnh đẹp Nâu ăn ngon Xem phim online Tin tức hàng ngày Nghe nhạc online Free flash games Phật giáo online Karaoke online Beauty Tips Game Sóc Yêu Flash game solo Game mới Từ điển Anh Viet Học ngoại ngữ Dich lời bài hát English test online Tiếng Anh ABC Rao vặt miễn phí Free Flash Games English test Kết quả xổ số Bóng đá livescore Tạp chí trẻ Tin tức hàng ngày Trò chơi thời trang Free Fonts Trò chơi Việt Vui MP3 Online Xem tử vi tướng số Baby Care Center Thiệp chúc mừng Chụp hình Hàn Quốc Hot girl photo Tấu hài vui nhộn Mang thai sinh đẻ Từ điển Việt Anh Bác sỹ gia đình Danh bạ web hay Web hay chon lọc Shock Tube
2009-Jun-21 23:23 - Thương từ canh hát

Thấm thoắt đã lại mưa phùn ngoài Giêng xuân mới. Năm nào cũng vậy, trước hội Lim, bụi ngọc trắng lại phủ xuống phù sa như đón mừng. Khách về hội trên đất nâu ẩm ướt và cỏ xanh mơn man đang với muôn trùng tay non lên trời cao mây mù.

Câu hát đã giăng mắc đón người trên mấy nhịp cầu sông Đuống. Tâm can nao nao về theo những tình xa xưa quan họ. Câu hát thoảng bên tai, câu hát lên bâng khuâng trong lòng.

Lạ một nỗi là chưa niềm vui gặp mặt, đã vội dâng tràn tiếc nuối sẽ phải xa rời. Nghĩ về những lần tàn canh từ giã trước, nào phải xa xôi gì mấy mươi đường đất, nhưng mỗi lần rời hội, ngoảnh mặt, quay lưng mà gửi những khăn áo vô hình ở lại, người đi về lững lờ trên hai bàn chân, còn dạ thì chỉ mong cho nắng chiều quay ngược đường sông núi.

Nhưng lúc này thì đang rất thực mà đứng trên đất đai nghìn năm Kinh Bắc, nghe hơi thở rộn ràng của những quả đồi ngủ đông, giờ đang hân hoan tỉnh dậy. Lúc này đang đi trong đường làng sâu hút, ngõ gạch cũ vươn vai, loang lổ vệt thời gian, mờ tỏ xa gần những vụn đỏ vụn vàng rung rinh mạng nhện. Chúng tôi gặp lại bác Địch, liền anh làng Lim vang bóng một thời. Năm nào cũng nguyên như thế, hình ảnh bác ngồi giữa nhà, miệng nhai trầu, bên mình ủ sẵn ấm trà đợi khách. Ngày hội, bác hay có cái thú mở băng, bắc loa cho vang xa lời ca của mình, bạn bè thân thuộc trên mọi nẻo đường nghe lấy từ hơi gió, nhớ đường đất mà về. Chè ngon rót mời, kẹo gạo nếp rang ròn bày sẵn, mau mau mà hàn huyên để cùng đi chơi hội. Vẫn những câu chuyện không cũ bao giờ, về ngày trẻ trai giữa đám hội, bác ca thật hay, với bạn trăm năm của bác bây giờ, từng là một liền chị nức tiếng.

Vẫn chuyện làng bác - Lũng Giang, với Tam Sơn kết chạ, xưa nay chưa từng có sự trai gái hai bên phá lệ làng mà lấy nhau bao giờ. Trong bốn chín làng quan họ gốc, nhiều nơi có cái quy ước như thế, đã kết chạ thì là anh em, là bạn bầy, là những mối dây quan họ, gắn bó về tình nhưng không được gần trong duyên số. Lỡ có đem lòng mà gửi cho nhau qua canh hát thâu đêm suốt sáng, qua cuộc hát trên đồi Lim, thì thôi, cũng đành lòng vậy, dầu lòng vậy mà kết làm anh Hai, chị Hai, anh Ba chị Tư cho vẹn đường đi lại giữa các bọn quan họ.

Nói quan họ - tình yêu không hôn nhân là vậy. Và cũng bởi thế mà trong chuyện kể của bác Địch và bao liền anh khác, luôn luôn có những cảm tình thân hữu đẹp đến nao lòng. Ấy là cái sự thâm giao, hiếu hảo giữa chồng hay vợ của liền chị, liền anh bên này với bạn hát của vợ hay chồng mình. Các bọn quan họ vì thế, luôn giữ mãi được mối thân tình với những bạn hát truyền thống. Như Lim - Lũng Giang với Diềm, Tam Sơn, Ném Đông với Ném Đoài, Hoà Đình với Đông Yên, Niềm Xá, Bồ Sơn với Y Na...

Những chuyện quan họ, chuyện Kinh Bắc xưa cứ dài mãi, giăng lưới trên vệt dài hồ đầm - dấu cũ của dòng Tiêu Tương từ Thăng Long, lên Từ Sơn, xuyên qua vùng quan họ. Chúng tôi đi tìm lại quanh vùng sơn thuỷ, gió còn phảng phất chuyện Trương Chi, trời cao nghìn năm chứng giám mối tình ngang trái, nghìn năm thấu những duyên tình muôn đời chỉ là hò hẹn. Thế nên mới có hội, cho người quan họ hát đối đáp và đi tìm nhau, tự trong lòng mỗi ai đều có một nơi chốn chưa gặp để chờ mong sum họp. Cùng với quan họ trên đồi, dưới ao hồ, bên cửa đình, sân chùa..., là vui đánh cờ người, thi dệt vải, chơi tổ tôm điếm, vui chọi gà, đấu vật, đu tiên, là thi làm cỗ chay, thổi xôi gà, và những đoàn rước dài lâu, rực rỡ, như từ những trăm năm huyền tích quay về... Người quanh các làng Lũng Giang, Lũng Sơn, Lộ Bao, Duệ Đông, Nội Duệ... và trăm vạn khách thập phương, muôn lòng đều náo nức trong bụi mưa diễm tình, trong khói hương kỳ ảo và ước nguyện tới cao xanh. Đêm dâng, canh hát nhịp nhàng trong tiếng Hừ la... văng vẳng. Này là Cây gạo, kia là Tình tang, rồi Đương bạn kim lan, Cái hời cái ả... Những liền anh liền chị cả năm nhớ hội nhớ người, chỉ đợi dịp này mà dãi bày qua câu hát.

Chả căn cứ thời gian, đôi bên hát cho thoả chí tang bồng, có lúc vài tiếng, có khi cả đêm, có những bận từ bảy giờ tối hôm trước đến bảy giờ tối hôm sau, đương quan họ vẫn chưa ngừng lời. Trao qua đối lại, đồng hồ điểm khuya, bình minh mây trắng mà đôi bên không nỡ đứng lên mà dứt cho được. Hàng trăm lời quan họ, hàng trăm năm tình quan họ bởi thế mà dằng díu, mà tình tứ. Vui có, như Tứ hải giao tình, Khách đến chơi nhà...; buồn thương có Ăn ở trong rừng, Gọi đò, Đêm qua nhớ bạn...; chia li, hò hẹn là Con nhện giăng mùng, Cây xanh dưng dức giữa giời, Bây giờ chia rẽ đôi nơi..., hàng mấy trăm giai điệu lời ca. Mọi cung bậc tình cảm chan hoà, quấn quện mà da diết nhường kia!

Chúng tôi được dự canh hát có các chị Minh Phức, chị Lệ Ngải đã kỳ cựu, cùng các liền chị trẻ trung, hát đối cùng anh em thầy giáo Hai Trường tại nhà anh Ba Trọng - một xưởng gỗ và sửa chữa ôtô ngay mặt đường quốc lộ. Canh hát đêm thâu nhịp nhàng, từng nhóm bạn bè từ Hà Nội, từ thị xã Bắc Ninh, tận bên Hưng Yên, Hải Phòng... lần chần mãi như chưa gửi hết được niềm trân trọng. Mà càng gặp người quan họ thuộc nhiều, hát hay, ra được chất Bắc Ninh vang, rền, nền, nảy..., lời ca thiết tha, diễm tình, lời gửi câu thưa ngọt ngào, bước đi, dáng đứng, dáng ngồi lịch lãm, cử chỉ nhẹ nhõm..., có mấy khi lòng không hứng khởi! Đôi bên quan họ hát, chủ nhà hát, khách hát..., hân hoan và say mê. Trong những không gian quyến luyến như vậy, từ hàng trăm năm nay, làm sao mà không mấy khi tình yêu vút lên cho được! Tôi chợt nhớ chuyện của bác Địch mà chạnh thương cho những ai chót lòng nhưng không nên duyên số. Quả vậy, những năm xưa và có thể còn sau này, khi nỗi đắng đót vì hẹn hò, vì đợi chờ vò võ, hay vì cảm tình luyến ái chợt đến trong hội vui, đã nhiều đôi nam nữ, không thể xuôi lòng mà chịu đựng... Vì thế, niềm da diết được tỏ bày trong cơn vụng trộm, có lẽ cũng khiến nhiều người trong làng trong tổng, kể cả những người đương kết chạ, sẽ quay mặt đi mà thể tất.

Đêm càng nối dài khuya khoắt, và những tình quan họ vang lên trong cơn mơ...

2009-Jun-21 23:23 - Con đường tuổi thơ

("Trên mặt đất vốn không có con đường. Người ta đi mãi thành ra con đường" - Lỗ Tấn)

Có lẽ trong ký ức mỗi người, dù thời gian trôi qua và tuổi trời khép lại, đều không thể nào không có một bóng dáng con đường trong tâm thức. Con đường tuổi thơ, con đường đến lớp, con đường cát bụi, con đường gian truân, và cả những con đường đi tới hạnh phúc, thành công...

Còn nhớ, vào một buổi sáng mùa thu, mẹ tôi dẫn tôi đến lớp học bài học đầu tiên. Bốn bề hoa thơm cỏ lạ. Tôi nhảy chân sáo đi, tay xách chiếc cặp tung tăng, miệng líu lo với những niềm vui khó tả. Thế là đã thành cô bé học sinh rồi đấy nhé. Chân tôi bước trên con đường men theo cánh đồng, cỏ mật phơi lưng dưới nắng; chuồn chuồn giật mình chấp chới bay khi có bàn chân người lạ bước lên thảm cỏ. Cỏ đan ken dày quanh mương nhỏ. Dưới dòng nước trong suốt chảy ngoằn ngoèo kia là chốn sinh nhai của lũ cá mương, cá cờ. Thỉnh thoảng, có chú cua đồng từ từ lách mình ra khỏi hang thận trọng giơ càng thập thò, đẩy mình, lồi tròng mắt ra quan sát rồi nhanh nhẹn bò vào. Những hình ảnh sinh động, ngộ nghĩnh, đáng yêu này, tôi thường gặp bên con mương nhỏ trên đường tới trường. Đi qua bờ mương lại gặp con đường đầy sỏi và cỏ may. Mẹ tôi cũng đã dẫn tôi qua con đường này, đưa tôi đến lớp, dặn dò về tôi với cô giáo, rồi mẹ ra về. Buổi chiều, mẹ lại ra đón. Hai chiếc nón trắng nhấp nhô trên đường. Đàn châu chấu và lũ chuồn chuồn lại nhớn nhác bay lên khi mẹ bế tôi đi qua con đường ngoằn ngoèo của con mương đầu tiên trên đường về nhà. Rồi sẽ qua con đường sỏi đá tiếp theo, đi một chặng nữa là về đến nhà. Và tôi nhận ra trên con đường sỏi đá của miền đất trung du này, có rất nhiều cặp nón trắng nhấp nhô như thế. Tất cả những cặp nón trắng nhấp nhô trên con đường kia là của những bà mẹ, đứa con bên nhau đến lớp, về nhà. Thế rồi tôi lớn lên. Nhưng con đường không lớn nhanh như tôi tưởng. Tuy nó được mở rộng hơn một chút. Cũng chỉ đủ cho chiếc xe công nông vật vã một cách nặng nề, khó nhọc khi phải đi qua. Đám cỏ gà ven đường và chùm cỏ mật ven mương không còn xanh và phổng phao như trước. Cỏ cây đã được phát quang một cách định kỳ. Nhưng cũng đủ để cho đám cỏ may trải rộng, chiếm chỗ, mặc sức lấy chiếc kim nhỏ đâm chích làm rát bắp chân người...

Tôi đã từng trở về thăm lại con đường tuổi thơ. Ngôi trường cũ năm xưa đã được thay thế bằng ngôi trường mái ngói đỏ tươi. Không còn là ngôi trường mái tranh, trình tường bao bọc như năm nào nữa. Hàng xoan trồng trước trường để làm hàng rào, giờ đã bị chặt trụi từ khi nào chẳng rõ. Thay vào đó là hàng phi lao, lá chưa đủ để hát lời ca vi vu của gió. Ngôi trường khang trang, trọc trụi với tường xây, gắn mảnh chai nham nhở chĩa lên trời, rạch bầu trời bằng những nhát cắt sắc lạnh, tái tê. Văng vẳng tiếng các em tôi ê a đánh vẫn. Rồi tiếng tiếng thước kẻ của giáo viên gõ vào bảng cạch cạch... Những âm thanh ấy sẽ gõ vào tâm thức con người, lay thức con người để nhớ về những miền nhớ, rất đỗi xa xăm.

Tôi còn nhớ, khi đã trưởng thành, con đường tôi đi hun hút gió, xa xăm. Con đường mà mẹ cha tôi không thể đưa và đón tôi về. Tôi chỉ cùng mẹ đi qua dòng sông Cầu trầm mặc trên con đò mà thời thơ ấu tôi đã từng qua, để đi trên con đường đất đỏ tới trường học Cấp 3. Tôi sẽ tự đi và tôi phải tự trở về theo tiếng gọi của tâm linh và những điều nhân nghĩa. Tôi phải trả ơn cho con đường, trả ơn cho ký ức và miền nhân nghĩa không bao giờ được phép lãng quên. Nơi sân ga tôi rời quê hương để về Thủ đô học Đại học, tôi biết con đường tương lai đang ở phía trước. Không còn bàn tay mẹ dắt, không còn tiếng rào rào của bầy châu chấu giật mình tung người bay lên khi bàn chân mẹ và tôi chạm khẽ vào cỏ. Một mình tôi bước tiếp trên con đường mà mẹ cha tôi mỗi lần nhớ con nhưng không dễ gì trở về thăm được. Hành trình dài là những nhà ga, là những quán cóc, dãy phố lô nhô với những tiếng rao đêm xé toang màn đêm tĩnh mịch. Trên con đường, dãy phố Thủ đô, hình ảnh những người đạp xe xích lô gò lưng mệt mỏi nhoài người trên con đường bỏng rát. Đã có những giây phút tôi suy tư đếm đo cái nhọc nhằn của những người dân quê với nỗi khổ của những người dân thành thị. Hình như không có nỗi khổ nào giống nỗi khổ nào. Nhưng giống nhau là gương mặt mọi người đều thấm đẫm mồ hôi. Tất cả đều mệt nhọc và hạnh phúc. Mệt nhọc bởi cuộc mưu sinh. Nhưng hạnh phúc bởi thành quả lao động của chính mình. Hình như giọt mồ hôi của mẹ cha tôi, tuy không phải là dân ngư dân vùng biển, nhưng mặn mòi hơn, chảy nhiều hơn sau mỗi lần con cái trưởng thành. Tôi nhận ra điều ấy, khi chợt thấy xót xa những sợi tóc bọc của mẹ lòa xòa bết lại theo những giọt mồ hôi từng giọt rơi xuống gương mặt xạm nắng, nhăn nheo. Mẹ cha đã già lúc nào không hay. Có lẽ bàn chân mẹ không đạp mạnh lên cỏ được như trước để khiến bầy châu chấu vụt bay lên. Tôi hình dung, ở cuối con mương trong suốt tuổi ấu thơ kia, bầy cá cờ và cá mương đang ngược dòng vui vẻ. Với chúng, không hề có nắng, có gió, có những giọt mồ hôi mặn mòi. Cuộc mưu sinh của chuồn chuồn, châu chấu, cá cờ, cá mương, và cả những chú cua đồng lười biếng kia cũng không thể gian nan bằng kiếp người. Nhưng con người sẽ không thể quên được chúng. Vì chúng là những chấm thơ trên cánh đồng mơ ước của tôi. Là ký ức sâu sắc mà tôi suốt đời phải mang theo như một món nợ khó trả...

Tôi không phải sinh ra ở Cầu Đá, Thác Lở, Làng Vàng... những tên làng, tên xóm ấy khắc khổ như những số phận người. Nhưng tôi cảm ơn số phận đã cho tôi đến được vùng đất trung du này, bởi qua con đường tuổi thơ nơi đây, tôi mới có thể trưởng thành và đến với niềm tin, mơ ước. Dẫu con đường quê tôi còn đầy bụi đỏ, xi măng và lấp tầm mắt người nhưng những cánh bướm, chuồn chuồn vẫn chấp chới bay trong tôi trong con đường ký ức. Bàn tay mẹ giờ đã rời xa tay tôi từ lâu, nhưng tôi vẫn cảm nhận được cái trìu mến, xiết chặt, ấm áp, tin cậy của mẹ khi mẹ dắt đi trên con đường tuổi nhỏ.

Vào ngày nghỉ, tôi tìm về với mẹ, cha - những người giờ đã yên nghỉ cạnh con đường mà tôi đã từng tung tăng đi học thuở ấu thơ. Đàn châu chấu vẫn bay lên khi bàn chân người đặt lên bờ cỏ. Đám cỏ mật lại thoang thoảng vị ngọt thơm nồng nàn ở nghĩa trang bên đường. Và tôi hiểu, mẹ cha vẫn đang cạnh tôi bước tiếp trên con đường năm xưa, con đường phía trước.

Ôi con đường có những cánh bướm rợp bay, mang màu sắc dệt vào bức tranh thêu ký ức. Xin được tạ ơn những con đường.

Những viên đá long lanh tự rửa trôi những gì bám vào mình, tự gột rửa như một sự khổ hạnh, tự gột rửa như một quá trình tàn phá... để chọn lấy sự trong sạch mong manh. Lấp lánh ấy khắc nghiệt bào mòn chính mình cho đến khi không còn nữa hữu thể...

Đá có khi trầm mặc từ từ hòa tan vào xung quanh – linh hồn thủy tinh để lại một chút ẩm, một chút lạnh, nhanh chóng tan biến – không lưu dấu.

Đá có khi thăng hoa thành những làn hơi phù du, như linh hồn chỉ cần lượn một vòng nhỏ trong số những vòng quay bất tận của vũ trụ.

Giữa đời sống bình thường, viên đá tự tan chảy để tìm về bản thể long lanh của mình.

Cho đến khi không nhìn thấy viên đá nữa thì mi làm sao biết được nó tồn tại hay không tồn tại?

Một chút lạnh đọng lại trong cơ thể mi – tê tái phiền muộn.

Một làn hơi vô hình bảng lảng quanh cơ thể nhọc nhằn của mi và làm mi nhức nhối.

Một sợi khói mong manh cuốn hút đồng tử mệt nhoài của mi vào cuộc phiêu linh tưởng tượng.

Một giọt nước đọng mà từ đó mi vẽ vời những ẩn mật mà bản thân mi muốn nói với mi – vô ngôn.

Một phân tử nào thấm vào bức vách với những ô gạch đỏ có hàng ngàn hàng ngàn ngõ ngách phức tạp do trò chơi của nước, lửa, không khí và đất.

Và gì nữa mi có thể nghĩ ra không?


Ta bỏ ra một giờ để ngắm viên đá đang tan chảy.

Ta bỏ ra một giờ để tận hưởng cảm giác băng giá tê buốt giữa nóng bức, ngột ngạt của một buổi trưa bình thường.

Ta bỏ ra một giờ để ngắm nghía điều quen thuộc nhất hòng tìm cho hết những điều thuộc về ta.

Có một phân tử nào trong một số lượng xác định được mà ta có thể gặp hai lần. Gặp lại – là điều gì mà làm ta bận tâm đến thế. Có phải vì ta sợ cảm giác xa lạ, khi điều gì ta gặp cũng lạ lẫm. Nhưng có phải tất cả đều lạ khi ta khăng khăng sự xuất phát và sự trở về là một – phân biệt để làm gì?

Rồi bỗng dưng mi hỏi tại sao mi lại đặt cho mi quá nhiều câu hỏi, để chỉ làm rối rắm thêm những suy nghĩ đã rối rắm của mình.

Viên đá của mi vẫn đang tan chảy đấy. Mi biết vòng quay bất tận của những phân tử ấy ở những dạng thức mà người ta vốn quen gọi bằng những từ đơn giản: rắn, lỏng, khí – hoặc văn hoa hơn mi mệnh danh nó là hiện thể, bóng ảnh và linh hồn. Mi gọi để đánh đố ngòi bút trong tay mi khi chính mi cũng không phân biệt được đâu là hiện thể và đâu là linh hồn.

Viên đá tự thanh tẩy để gìn giữ sự long lanh.
Viên đá tự hủy để thách thức sự tồn tại.
Viên đá tan chảy, ấy là một linh thể!

Mi không phải là viên đá để kết luận điều gì.

Mi đang mài mòn ngòi bút chì của mi để vẽ vời những thứ bùa chú quái dị mà mi gọi là ngôn từ...

Mi viễn vông để phân biệt viên đá, giọt đá, hơi đá. Rồi mi lại viễn vông gộp chúng lại để dựng nên hình ảnh viên đá trong trí tưởng tượng của mi.

Mi mơ hồ, huyền hoặc.

Cuối cùng mi cũng không hiểu được bản thể là mi. Tất cả mi, viên đá đang tan chảy và hình ảnh viên đá đang tan chảy trong đầu mi đều là những thứ được tạo ra trong vũ trụ huyền nhiệm... Các ngươi phân biệt nhau nhưng không hề khác nhau.


Ta trải qua một giờ để ngắm viên đá đang tan chảy và nghe những mật ngôn viên đá ấy nói với ta...

Mật ngôn của đá dành cho mỗi người không giống nhau. Ta cũng vậy!

 
2009-Jun-21 23:21 - Đợi

Tôi ngồi vò võ trong ngôi nhà rộng 25m2, chỉ để đợi chồng về. Anh thường về nhà vào ngày cuối tuần. Đối với người phụ nữ tôn trọng giá trị truyền thống như tôi, ngày cuối tuần luôn là ngày trọng đại nhất.

Mấy đứa bạn tôi bảo: “T yêu anh xã bởi điểm gì?”, tôi không biết là tôi yêu anh xã bởi điểm gì. Chỉ biết rằng những lúc ở bên anh tôi thấy mình hoàn thiện. Cả một tuần ăn cơm một mình, anh về tôi được lăng xăng đi chợ mua những món ăn mà hai vợ chồng cùng thích, anh vào bếp, tôi nhặt rau. Thi thoảng hai ánh mắt bất chợt gặp nhau một thoáng rất đỗi dịu dàng. Tôi cảm thấy hạnh phúc vì được chờ đợi, hay nói đúng hơn sự chờ đợi của tôi đầy thi vị.

Nhưng tuần này anh nhắn tin cho tôi: “Vợ thân yêu! Anh không về được. Chán thật! Em lại một mình rồi, chăm sóc con chu đáo nhé!”. Tôi đọc đi đọc lại tin nhắn của anh đến hàng chục lần. Không hoài nghi, không giận dỗi, nhưng có một điều gì đó đang va đập trong suy nghĩ của tôi. Chiều nay cô bạn cùng cơ quan của tôi khoe với mọi người: “Tối nay thứ bảy, máu chảy về tim. Anh xã mình về, đưa cả nhà đi công viên chơi rồi vào nhà hàng thưởng thức mấy món ăn Hàn Quốc”. Tôi buồn. Tôi chỉ nghe đến đấy thôi đã vội trào nước mắt. Sao mà tôi mau nước mắt thế không biết, hơi một tí là tủi thân. Chồng tôi bảo: “Mỗi lần thấy em khóc anh lại thấy mình có lỗi, anh đi xa nhà suốt, về là muốn làm em được vui”. Tôi không quá cầu kì về vật chất, tôi là người sống tình cảm. Ai cũng bảo tôi xuề xoà và hơi xốc nổi.

Tôi thả mình vào dòng người và xe cộ. Con đường Đại Cồ Việt gần nhà bố mẹ chồng tôi đầy ắp những hoa điệp vàng. Hoa rất đẹp nhưng chỉ có giá trị thẩm mỹ thôi chứ không có giá trị về kinh tế. Nên không ai bẻ hoa điệp về cắm vào lọ cả. Tôi dựng xe ở quán bia ven đường. Quán bia Thành Đoàn ở 115 trên đường Đại Cồ Việt gần con đường mới làm qua Tạ Quang Bửu đông ngồn ngộn khách lúc chiều về. Cô phục vụ bàn bảo: “Chị dùng bia trước nhé?”. Bia? Tôi cười lắc đầu nhìn cô bé chừng mười bảy mười tám. “Cho chị ly nước ngọt, một chút lạc luộc và khoai tây chiên”. Vừa nói tôi vừa nhìn đăm đắm vào những tốp người đang ngồi ở quán bia. Hình như ai cũng không muốn về. Lạ thật! Hôm nay chồng tôi không về nên tôi mới ra quán bia để giết thời gian. Quán bia ngoài trời thật ồn ào nhưng sự ồn ào khiến tôi không có cảm giác cô đơn. Tôi sợ sự cô đơn vì cả một tuần tôi phải đối mặt với nó. Đang thả mình trên chiếc ghế sofa vàng và chiếc bàn xanh của quán bia Việt Hà thì gặp đôi bạn thân cùng lớp “đang iu” nhau. Hai cô cậu không nhìn thấy tôi, cười tít, tay nắm tay nhau tình tứ. Thi thoảng cô bạn thân lại ghé lên má người yêu nó và hôn đến chụt một cái. Tôi cười. Thi vị thật đấy. Vợ chồng tôi cũng có những giây phút tình cảm như thế, nhưng trước đông người thì không bao giờ. Anh người lớn, chín chắn và ý tứ. Ở bên anh kể cả những lúc khó khăn nhưng cách cư xử tế nhị của anh và sự hiểu biết của anh vẫn khiến tôi hãnh diện với đám bạn cùng trang lứa. Nghề xây dựng của anh đầy rẫy những rủi ro nhưng tôi đã lựa chọn cùng anh đi trên một con đường, tôi sẵn sàng chấp nhận tất cả.

Một người bạn thân khác nhắn tin vào điện thoại an ủi tôi: “T còn hạnh phúc chán, có cảm giác hồi hộp chờ đợi, có cảm giác mong ngóng đến nao lòng. M hết cảm giác đó rồi. Suốt ngày chồng M yêu M bằng cách muốn ở bên M 24/24h. Không cho M giao tiếp bạn bè, M đi làm gì khỏi nhà vài chục m cũng phải được sự đồng ý của chồng, nếu không chồng M sẽ bám theo ngay”.

Thật là khủng khiếp. Sự khủng khiếp này đáng sợ hơn cả sự chờ đợi. Tôi vẫn là người hạnh phúc. Giật mình, 6h, đã đến giờ đón con. Tôi đúng là người phụ nữ xốc nổi. Tôi đã có một đứa con rất đỗi đáng yêu và bụ bẫm. Con tôi thừa hưởng đôi mắt của anh, cái miệng duyên khủng khiếp của anh… và nước da của tôi. David Bâm! Tôi vẫn gọi con trai mình bằng cái tên thân mật như thế, chắc David đang ngóng trông tôi lắm, mỗi lần tôi xuất hiện ở cửa lớp, con tôi lao ra như một thiên thần với chiếc cặp sách bé tí tẹo. Cảm ơn con, tôi thì thầm, chắc là con đang đợi mẹ…

2009-Jun-21 23:20 - Ngõ quê

Ngày bé, cứ dịp tết hay hè tôi náo nức về quê. Ngõ xóm quanh co trước nhà bà nội là nơi tôi cùng lũ trẻ ẩn tìm, trèo rào, víu cây và bao trò chơi khác. Ngõ hẹp và sâu hút. Đường gạch, vỉa nghiêng nghiêng. Hai bên chỗ tường đất, chỗ bờ rào duối rậm rịt, hay dải cúc tần hăng hắc.

Có nhà lại trồng râm bụt, thấp thoáng những bông hoa phớt đỏ. Về làng, từ xa tôi đã thấy cây gạo bóng cao vút, đỏ ối hoa. Làng tôi có câu:

Đầu làng cây gạo
Cuối làng cây đa.
Con gái làng Đà,
Như hoa thiên lý.

Từ đường cái vào làng có hai trụ gạch sừng sững, người ta gọi ấy là cổng làng. Bà tôi bảo, trước cổng làng to lắm, có mái, phía trên đắp nổi mấy chữ Nho, nay cổng làng sót lại là hai cái trụ gạch đấy. Cổng làng có cánh cửa lim to dày, đêm đêm đóng lại phòng cướp. Tôi ngây thơ hỏi: Đóng cổng lại kẻ cướp vòng qua bên cạnh vào thì sao - đấy là cánh đồng và những bờ rào lúp xúp sát ngay bên trụ gạch. Bà cười bảo: Ngày trước, làng không trống tềnh, trống toàng như bây giờ, mà có luỹ tre dày trồng trên bờ đất bao quanh, đến đạn Tây bắn còn không xuyên nổi. Tôi không hình dung được luỹ tre và bờ đất dày đến cỡ nào mà đạn cối tây bắn không qua, nên cứ ngạc nhiên mãi cái cổng làng phòng cướp...

Cổng làng như vậy, nhưng cổng của ngõ xóm nhà bà nội tôi lại còn khá nguyên vẹn. Thành cổng tường xây dày đến ba, bốn mươi phân, trên là vòm xây khum cong cong. Từ đường làng rẽ vào, phía trên nhìn thấy mấy chữ Nho đắp nổi, to bằng cái bát ô tô. Chỉ còn mấy cụ cao niên trong làng là đọc được. Đấy là chữ ghi lại năm xây dựng cổng. Nghe nói xây từ đời vua Tự Đức. Đôi cánh cổng lim dày, vẫn còn đóng ra khép vào được. Lớp gạch hai bên bị xe cải tiến va quệt và trâu, bò qua lại gõ sừng, làm vẹt lõm, trơ ra mạch vữa và những hàng gạch mỏng quẹt. Người ta bảo ngày trước vữa xây bằng mật mía, muối và vôi cát đánh nhuyễn; còn gạch dùng rơm rạ đốt. Tôi cứ phân vân, cổng ngõ to lớn thế, phải tốn nhiều mật mía để xây và rơm rạ đốt gạch lắm. Thảo nào bao năm, vữa xây còn bền, gạch thì không phồng mà mỏng đều và một màu gan gà, trơ trơ trước thời gian cùng mưa nắng.

Làng tôi đường đất, duy nhất con đường ngõ nhà bà nội tôi là vỉa gạch nghiêng nghiêng. Quãng giữa ngõ, có cái bệ thờ. Không hiểu sao tôi lại nhớ như in cái bệ thờ đó. Nó bé nhỏ, khiêm nhường, không mái, nằm hơi lùi trên một khúc tường đất. Bát hương trong bệ thờ bao giờ cũng có cụm chân hương. Chân hương cái thì màu phẩm còn đỏ tươi, cái lâu ngày xỉn thẫm. Bà tôi gọi là thờ hậu và bà kể: Trước ở làng có những người mua hậu - tức là nộp tiền, hiến ruộng cho làng, cho chùa để làm một công trình nào đó. Thường là những nhà ấy không có con giai, mua hậu, sau này họ mất đị, được làng xã, hương khói, cúng giỗ. Trước tiên họ phải bỏ một số tiền nộp lệ cho làng, cho chùa, cho bản tộc làm công trình, sau đó hiến một số ruộng để làng xã lấy hoa lợi cúng giỗ. Hậu có ký hậu làng, ký hậu xóm, ký hậu chùa, ký hậu họ. Ngõ nhà bà nội tôi trước có gia đình không con cái, ông bà mua hậu ở chùa, ở đình và còn mua hậu ngõ bằng con đường gạch. Chuyện mua hậu con đường gạch của gia đình ấy mất nhiều công sức và cũng cầu kỳ lắm, phải bao lần lên xuống, làng và dân xóm mới đồng ý. Chỉ riêng khâu cuối cùng là việc xây dựng đã rất nhiêu khê, kỹ càng. Gạch đặt trước, rồi chọn lựa từng viên. Xem xét, chọn lựa mãi qua mấy ông thầy, mới được ngày giờ tốt khởi công. Công trình xây dựng rất kỹ càng. Trước hết người ta san phẳng nền đường ngõ, rồi dải một lớp ba ta vữa, sau lát một lớp gạch nằm, tiếp đó lại một lớp ba ta vữa và trên cũng vỉa gạch nghiêng. Công trình cẩn thận như vậy, trước đây lại chỉ độc người đi bộ, cùng trâu bò gia súc, chứ không công nông, xe máy như bây giờ, nên trải qua mấy chục năm, nó vẫn tốt như nguyên. Thế nên sau khi ông bà già mua hậu mất, đã thành lệ, hàng năm vào lúc trước giao thừa cúng thổ công, cúng gia tiên, dân ngõ ra bệ thờ dâng đĩa hoa, thắp nén hương, khấn người mua hậu ngõ con đường.

Ngày bé mỗi dịp về quê, đi qua bệ thờ, tôi thấy sờ sợ, nhưng vẫn lấm lét nhìn vào, rồi rảo cẳng bước nhanh. Tôi cứ tưởng tượng ấy là nơi ma quỷ trú ngụ. Sau này lớn về quê, nhớ chuyện xưa, qua bệ thờ tôi lại bâng khuâng nghĩ về tuổi thơ, dừng lại thành kính thắp nén hương, cúi đầu lẩm rầm khấn tiền nhân. Nhìn làn hương mong manh mà nghĩ về thời gian trôi, nghĩ về một tập tục, nét văn hoá chốn quê.

Giờ quê tôi đường làng mở rộng, đổ bê tông. Con đường ngõ nhà bà nội tôi cũng bê tông phẳng phiu. Nền đường tôn cao, làm cổng ngõ thấp xuống, vướng chắn tầm cao người qua lại, nên nó bị dỡ bỏ. Còn gạch vỉa đường, trước nhà nào, nhà ấy khuân về, mỗi nhà được dăm chục, một trăm viên. Khuân về nhưng ít ai biết gạch ấy nguồn gốc do đâu. Bà nội tôi sai xếp thành đống ngay ngắn trong sân và bà lại kể câu chuyện mua hậu con đường xưa...

Trước hai bên ngõ là bờ duối, hay rặng cúc tần, râm bụt, người ta còn để đất rộng, nay tường gạch nên nhà nào nhà ấy đều xây sát đất, tường cao vượt cả tầm nhìn. Nhà nào cũng một cổng xây, tường gạch bao quanh, cánh cửa sắt ra vào tiếng đẩy kót két.

Đâu rồi dậu râm bụt điểm hoa phớt đỏ, bờ duối lấm tấm quả vàng. Bâng khuâng tôi dõi tìm bệ thờ mua hậu xưa mà không rõ là đâu.

2009-Jun-21 23:19 - Hoài niệm quê hương

(Dâng tặng Mỏ Cày, quê ngoại của con)

Hai mươi sáu năm chẵn tròn bỗng một ngày hứng khởi ta dong xe về quê. Cứ nghĩ quê hương kia xa vời vợi, vậy mà chưa mất ba tiếng đồng hồ ta đã đến bờ Hàm Luông bát ngát cong cong. Chợt nhớ thuở xưa qua phà mà khăng khăng bảo chị phà này không biết chạy như đò ngang.

Bé tí ti nên thứ chi cũng khuất cả tầm nhìn. Chị phải bồng em lên, trỏ qua hai bên bờ xanh ngắt trôi trôi. Ta vẫn ương bướng bảo mặt đất đang chạy theo phà. Ta còn nhớ bên kia phà có những người đàn bà đội nón lá xùm xụp, chèo kéo bán những chiếc bánh ít tròn tròn dẹt dẹt không cân xứng theo hình kim tự tháp. Lột mấy lớp lá chuối ươn ướt mới thấy bột bánh màu nâu xỉn của đường thùng chua chua còn thơm thơm mùi mía, nhân đậu xanh mằn mặn làm buồn buồn sau tai. Chị nói thuở giờ không ai gói bánh kiểu nhà quê ấy nữa. Bánh cũng phải tiến hóa, biết dọp đầu hình chóp, mình trắng tinh thơm sực mùi sầu riêng và đi vào cửa hiệu hẳn hoi bởi chẳng ai bán bánh dọc đường đi nữa: người ta gớm chết thực phẩm lề đường bụi bặm! Chẳng biết mấy bà già bán bánh có còn đó chăng?

Hai mươi sáu năm chẵn tròn. Ta chợt nhớ chợt quên hàng cây già xanh mượt không tên không tuổi bên kia sông, trầm ngâm vạn kỷ tỏa bóng rợp đường đi. Đất đỏ vẽ thành những sọc rằn ri làm ly kỳ áo trắng, bụi đường làm xựng tóc như bôi keo, bám đầy mi mắt thành để hôm sau hóa ra những cục ghèn đen kịn. Ta cũng nhớ đất đỏ có mùi rất riêng của mình: ngòn ngọt khi hòa cùng khói xe lam dằn xóc, hăng hăng mùi cức ngựa khi ngồi sau chiếc xe ngựa bánh gỗ gập ghềnh cao nghệu, chan chát mùi mồ hôi của chị ta buổi trưa băng chân đất ra vườn. Chớ bây giờ còn đâu. Đường rải nhựa thênh thang, mặt bóng loáng nên nhìn thứ gì cũng ra ảo ảnh. Xe cứ phon phon nửa tiếng là đến quê nhà nên thấy gì cũng loáng thoáng, có cảm giác mình đã từng qua đây. Ngày xưa ta nhóc nhách nhét mình trên băng ghế chật cứng trong chuyến xe đò về Thạnh Phú cũ mèm chạy cọc cạch mất cả tiếng đồng hồ. Những vạt dừa cao ngút khoan khoải từ từ lùi ra sau. Qua những giồng cát ta còn đếm được từng cây cầu và từng miếng ván. Hình như ta vẫn còn nhớ được cầu Mỏ Cày cao chót vót mà ta phải đặt từng bước chân ngập ngừng vào giữa những thanh gỗ đen sì chênh vênh. Chứ bây giờ nhà nước đã bê tông hóa cầu đường. Cái bảng “Cầu yếu. Xuống xe qua cầu!” chắc đã được hóa kiếp ở những vựa ve chai sắt nguội mất rồi. Vậy mà đứa cháu vẫn không tin. Nó nói cầu đi như lắc võng thì họa chăng người ta ốm nhách đến độ trèo cây đu đủ còn không gẫy nữa là!

Ừ mà ốm thật! Đói xanh xương. Gặm mía thay cho ổ bánh mì sáng đã bị cho là xa xỉ. Ăn độn khoai lang, nhai xác dừa mà cứ như là đại tiệc. Xúm xít bên nồi mì thủ, dì cháu, xóm giềng quây quần hếch mắt xem tuồng hát bội trên ti vi đen trắng hoành tráng của nhà ông Chín. Xơ mì sừn sựt giữa kẽ răng nhạt thếch mà nhả ra lại uổng nửa vời. Thuở thơ ngây không biết đói no chuyện bạc tiền, hay mòn mỏi chờ mỗi chuyến đò dọc chạy cà xịch cà tang ngoài cầu Ông Ngò, chở theo biết bao nhiêu là niềm mong nhớ chốn phù hoa đô hội được gói ghém trong quyển “Kô-chi-a lùn”, dăm thứ đồ chơi Chợ Lớn làm bằng nhựa cũ hay những cục kẹo đen ngòm được gói trong tờ vé số từ Bến Tre mang về. Chứ bây giờ dì Ba, dì Gái nhỏ cười khanh khách, nói thằng này hồi nhỏ mày ốm nhách, đói cơm khóc lồi cả rún, cặp nách nó nhảy qua mương mà rớt ùm xuống nước, bị chị hai đánh quá chừng!

Hai mươi sáu năm chẵn tròn. Dì Ba đã lên chức bà ngoại, lại sắp sửa cưới vợ cho con. Mà con dì đứa nào cũng sáng sủa bảnh bao. Học lên tới đại học ở Sài Gòn, dắt bạn gái về nói toàn tiếng Tây, mình mẩy thơm sực mùi nước hoa chứ đâu có hôi bùn như má nó thuở nao. Rồi dì chặt mấy trái dừa xiêm, nói hồi đó mình ăn khoai lang luộc, húp nước dừa muốn gần chết. Bây giờ người ta mua mão cả vườn dừa để bán lên Sài Gòn, đi vào nhà hàng thứ thiệt. Dừa biết đẻ ra khối tiền để mua xe tay ga cho sắp nhỏ. Dừa xứ mình thấm đẫm duyên thầm của con gái đất giồng: có chút vị ga tê tê đầu lưỡi, ngọt thanh thanh nhẹ lòng, chẳng cần để tí muối bọt như ở mấy quán cà phê đô thành. Hai mươi sáu năm chẵn tròn, dừa quê mình vẫn vậy!

Ta lần hồi tự mình tìm về nền nhà xưa. Cứ men theo lối nhỏ bên cầu, băng qua mấy bờ mương thì gặp nhà bà Cố Sáu có hàng dâm bụt ở trước. Vẫn đấy, nhưng bây giờ đời thứ F100 của khóm bông này đã tàn tạ lắm thay. Hàng cau thẳng tắp nép mình bên vạt dừa vạm vỡ cũng đã đi theo bà về quê cố tổ: buồng cau chỉ còn là thứ trưng bày chiếu lệ trên mâm trầu cưới hỏi mà thôi. Mấy bà già cũng không ăn trầu đỏ miệng, sợ con cháu tụi nó chê cười miệng hôi. Nhà bà Cố vẫn lụp xụp muôn đời, mấy ai biết bà là vợ lẽ của điền chủ được cấp đất bạt ngàn thuở xưa. Giờ con cháu nó bán đi, lấy tiền mà ra phố thị đua chen, bỏ mặc nhúm mộ đất cụ bà chỏng chơ nằm cạnh mé đìa. Chắc bà cũng chẳng hờn trách ai vì cả đời bà không hề la rầy sắp nhỏ lấy nửa lời thì nói chi đến roi vọt. Ta lại bồi hồi thấy cây ổi sẻ bà trồng sau bờ mía, trái trĩu cành, ngọt ngọt chua chua thơm mùi cỏ dại mà ngày xưa anh ba cứ hăm he chặt cành làm ná. Cây ổi vẫn bình yên gầy guộc, thẳng đơ chờ ngày kết cục mà hình như đám con cháu vẫn thương tình cho thói vô tích sự nên cứ để nó lây lất qua ngày. Thân cây nhẵn thín vẫn còn, mà tiếng cãi lộn tranh giành từng trái ổi nhỏ xíu của đám nhỏ tụi mình đã im tịt từ lâu!

Ta đứng đây trên nền nhà cũ mà bây giờ là sân phơi dừa của dì Ba. Ta còn nhớ rất rõ nơi này là chỗ kê chiếc giường cho cả năm chị em mình. Ta không ngủ, ngóc đầu nhìn từng tàu lá dừa nước lợp trên nóc mà mường tượng là những hạt lúa dài ngoằng để ta ăn cả ngày mới hết hạt cơm. Đây là bờ mương mà chị Tư ghim từng gốc rau nhút, mong nó vươn dài che kín mặt nước để cho cả nhà một nồi canh lõng bõng, âu cũng bớt đói lòng chiều hôm. Nơi đây ba trồng một cây bưởi, mong một ngày má bán được mươi trái, mua cho chị hai cây kẹp tóc làm duyên.

… Hai mươi sáu năm vơi đầy. Mảnh đất này đã vun vầy cho ta khôn lớn. Cho ta đi qua những ngày thơ dại. Đói no cuộc đời qua mấy lần xáo động, ta cũng trở về đây. Đất vẫn vậy, thủy chung bảo bọc những hoài niệm xưa mà đôi khi tụi mình quên mất biệt trong cuộc đời tất bật. Ta về đây. Ngày xưa vẫn còn nguyên trong từng khóe mắt, nụ cười và giọng nói của người quen. Ta vẫn còn nghe tiếng đò chiều xình xịch bến sông, biết lòng rộn rã chờ mong những đợi mong về những ngày sắp tới, dẫu biết tương lai có qua đi mới cho mình hiện tại. Mảnh đất này dung dưỡng từng giấc mơ, cho tuổi thơ ta bình an lớn lên cùng những điều giản dị. Cho hôm nay ta bình an về lại quê mình.

Hoài niệm bình yên.

 

[ Last Page ] [ Page 2 of 4 ] [ Next Page ]