Game vui Đọc Truyện Hình ảnh đẹp Nâu ăn ngon Xem phim online Tin tức hàng ngày Nghe nhạc online Free flash games Phật giáo online Karaoke online Beauty Tips Game Sóc Yêu Flash game solo Game mới Từ điển Anh Viet Học ngoại ngữ Dich lời bài hát English test online Tiếng Anh ABC Rao vặt miễn phí Free Flash Games English test Kết quả xổ số Bóng đá livescore Tạp chí trẻ Tin tức hàng ngày Trò chơi thời trang Free Fonts Trò chơi Việt Vui MP3 Online Xem tử vi tướng số Baby Care Center Thiệp chúc mừng Chụp hình Hàn Quốc Hot girl photo Tấu hài vui nhộn Mang thai sinh đẻ Từ điển Việt Anh Bác sỹ gia đình Danh bạ web hay Web hay chon lọc Shock Tube
2009-Jun-21 23:28 - Mê… thầy

Nhưng tại sao lại mê thầy? Chắc do tâm sinh lý tự nhiên, hễ con gái thì thích thầy, con trai đương nhiên khoái cô?Hay vì ông thầy đầu tiên để lại ấn tượng sâu đậm quá? 

Giả thuyết đầu tiên khả năng sai cao, bởi nhiều đứa con gái bạn tôi mê cô giáo đến mức… xin hình cô đem về nhà treo. Giả thuyết thứ hai cũng không chắc, sâu đậm kiểu gì mà tên của người thầy đầu tiên tôi đã quên mất tiêu rồi. Quên gương mặt, dáng đi, giọng nói. Không biết thầy có đẹp trai không, giọng nói có ấm áp không? Thầy có thường cười đùa hay nghiêm nghị mực thước? Thầy từ đâu tới, người tự nguyện đến cái xóm heo hút đó để khai sáng cho đám trẻ quê nghèo, hay bị ép buộc về nông thôn cho đủ thời gian thử thách trước khi quay lại thành phố. Và, năm mười sáu tuổi, "thì" có "dậy" chút đỉnh, tôi đặt câu hỏi sau cùng về ông thầy thơ ấu đó, là "không biết thầy có… vợ chưa?". 

Những câu hỏi không một tiếng vọng. Trong miền nhớ mịt mờ, chỉ là những cảm giác lên tiếng, chúng nói, thầy bị "đày". Vì một ngôi trường (nói vậy cho oai) chỉ có một lớp học ngó ra sông nhỏ, mấy cây cột trâm bầu sần sượng, mái lợp lá chằm đóp, bàn ghế ghép lại bằng những thân cau chẻ, gỗ tạp. Người trong xóm có gì quyên góp nấy, nên lớp học trông lởm chởm như… chổi lông gà. Những bữa mưa nhiều tụi học trò phải ngồi chổm hổm trên ghế, co rúc người cho đỡ lạnh.

Trường lớp ọp ẹp, được nhúm học trò, mà tụi nó cũng ọp ẹp. Ọp ẹp theo kiểu tôi thì ốm tong teo, đen rọi đèn pin còn không thấy, theo kiểu đám bạn tôi cũng đa dạng, đứa thì ghẻ chóc đầy đầu, đứa học nửa năm chỉ nhớ được chữ O, may nhờ nhà nó chuyên ấp gà con bán, có đứa đang học bỗng chạy đi mất tiêu, lúc quay lại nó gãi đầu thưa, con đi thăm lờ, cá nhóc. Có đứa một ngày học, bốn ngày nghỉ vì bận mót lúa ngoài đồng, có đứa ghé qua học chừng hai buổi thì đi, ghe nhà nó nhổ sào rồi. 

Sau này, nhớ về lớp học đầu tiên, tôi luôn hình dung ông thầy đứng gần tấm bảng gỗ bào vội, sần sùi, gió sông thổi thốc vào, lá mục bay chấp chới, chim non tao tác kêu trong những lùm cây dại bên hè. Hình ảnh thật buồn, cô đơn, hoang hoải. Nhưng là tôi tưởng tượng vậy, bởi đâu còn nhớ thầy đã từng buồn hay vui. Chỉ biết, thầy hay đến trường bằng nhiều hướng khác nhau, lúc đi ngang nhà ngoại tôi, lúc lại từ đằng kia tới, như thể thầy từ trên trời, rơi ngẫu hứng đâu cũng được. Nên có bữa tôi nán lại chờ ngoại luộc trứng chim canh chừng hễ thầy đi qua thì xách tập chạy theo, chờ hoài, ăn hết mớ trứng thì đằng trường thầy cũng dạy hết một bài. Giữa giờ chơi, thầy thả bộ tà tà lại nhà ngoại tôi uống trà, mà sao không uống trà nhà khác, tôi không hiểu. Mười sáu tuổi (lại mười sáu tuổi), tôi có một giả thuyết, ông thầy thương dì tôi, nên giả bộ lại uống trà với ngoại, để được ngó dì. 

Nhưng có giả thuyết khác ít ngang trái lãng mạn hơn, là thầy cần phải gặp ngoại để tìm ra phương cách "chiến đấu" với cái tật… xé tập của tôi. Hồi đó, mỗi cuốn tập của tôi khi viết tới trang cuối thì nó còn chừng… mười sáu trang, cả thảy. Ngoài vụ đó, tôi còn nhiều vấn đề khiến "nhà trường phải phối hợp với phụ huynh". Có lần quậy tưng trong lớp, thầy dọa, chút nữa lại méc ngoại. Báo hại lúc ra chơi phải chạy về nhà để rình, nếu thầy méc thiệt thì thủ tiêu mấy cây roi ngoại hay giắt trên vách. Bi kịch, đứng ngoài hè trò bị kiến vàng cắn tả tơi, trong nhà thầy thủng thỉnh ngồi uống với ngoại, hỏi những câu kiểu như, lúa vụ này khá hôn, chú Hai. Vào học, thầy bảo, méc rồi, về nhà bị đòn nứt đít. Tôi gãi chân, cười thầm, ông thầy nói dóc dễ sợ. 

Hồi đó, chắc chắn tôi không sợ thầy, từ đó suy ra là thầy dễ chịu lắm. Thương lắm. Đến nỗi khi trở ra thị xã học tiếp, tôi nhớ mình đã viết một lá thơ gởi thầy (tất nhiên, giấy xé ra từ tập học). Rồi mấy cây cột cặm trong lớp một ngày kia được bà con trong xóm nhổ về làm củi chụm, thầy biến mất, lặng lẽ như hồi thầy tới.

Tôi lại có ông thầy khác, ông này có họ hàng bên má, vai cậu tôi. Vô lớp tôi gọi thầy, trống trường đánh cái thùng, tôi kêu cậu ơi cậu à, mà kêu lớn lắm. Cho tụi bạn nó… nể, thấy tui xấu vậy mà cũng có cậu làm thầy giáo à nghen. Hồi đó sao mà thầy cô giáo có giá dữ vậy không biết, bị tôi đem ra lòe thiên hạ, cũng thu được chút lợi, cái lợi đáng kể nhất khi có ông cậu họ làm thầy giáo là không bị bạn ăn hiếp. Hai mươi sáu tuổi, nghĩ lại thấy mình khờ, giờ thì gặp ai đáng chú, đáng bác cũng muốn gọi bằng thầy, để được xưng… em. 

Hơn mươi năm ngồi chai đít khỉ ở trường, học qua nhiều thầy cô giáo, nhưng năm nào có thầy thì năm đó học được, nói chung sáng ngủ dậy có muốn… tới trường. Thầy đẹp trai thì, chậc, còn gì bằng. Có dạo, đi học vi tính, hai ông thầy đều đẹp, độc thân, trẻ trung, khóa ấy, tôi đậu… thủ khoa (ha ha ha).

Thật tình, tôi không biết những ông thầy mà tôi mê có phải là giáo viên giỏi (cấp huyện, cấp tỉnh) không, có phương pháp sư phạm không, hiệu quả tới đâu, giảng bài có cuốn hút không, dạy có dễ hiểu không, và tôi đã nhận được những kiến thức gì, tôi nhớ chỉ vì ông thầy đó dễ thương.

Những ông thầy không làm tôi sợ bằng cách buộc tôi cúi đầu vâng dạ, những ông thầy không bắt tôi phải lễ phép khép nép trước mặt mình, gò học trò vào một sự kính trọng gượng gạo. Có thể có thầy nghiêm khắc, lúc nào đó, quãng nào đó, nhưng tôi không nhớ, chỉ nhớ thầy đó y chang bạn tôi. Trong không gian trường học chật chội, tẻ nhạt với những thứ kỷ luật bó buộc, những bài học khô rốc, cứng ngắc, những ông thầy để lại trong ký ức tôi sự khoáng đạt, mạnh mẽ, dắt tôi lướt đi trên khuôn khổ, tiểu tiết. Tôi quên mình đã học được gì nhưng nhớ mình đã được đối xử như thế nào, từ những người thầy. 

Đó là những người đàn ông dịu dàng và bao dung, giống như ông ngoại tôi, ba tôi, đến nỗi, khi tìm kiếm tình yêu, hay bắt đầu quan hệ bạn bè, tôi luôn nghĩ tới những ông thầy của mình. Giữa thầy và trò, giữa bề trên và kẻ dưới, giữa người cho và kẻ nhận, tôi đã nhận được sự thân ái, yêu thương, đồng đẳng giữa người và người.  

Nên nhớ thầy, trước nhất, tôi nhớ người.

2009-Jun-21 23:27 - Tự vấn

 

Chị rất thích hoa, thích nhất là ngắm những cành phượng đỏ rực khoe sắc. Cái sắc đỏ rực tràn ngập mọi sân trường ấy luôn khiến dấy lên trong lòng bất cứ ai còn trong độ tuổi cắp sách lâng lâng một cảm xúc khó tả, không biết tại vì màu của nó quá nóng hay tại nó luôn nở vào thời điểm khá đặc biệt: mùa hè.

Với những lớp không phải thi hết cấp thì đó là lúc những kế hoạch đi đây đó, làm một cuộc tổng thay đổi bản thân bắt đầu nhen nhóm. Với những “kẻ bị trời hành” thì ráng đỏ ấy mang lại cảm giác vững tin, háo hức trước những thử thách sắp tới.

Những năm còn học phổ thông, chị thường thơ thẩn đi nhặt những chùm bông đỏ về ép vào tập và vì chị rất đẹp lại học giỏi, nên thường có những “kẻ phá bĩnh đáng yêu” tranh nhau tước đi cái thú được cúi xuống nâng nhẹ một chùm đỏ thắm, khẽ vuốt những đôi cánh bị gấp vào hay nghịch ngợm xoay tròn thẩn thơ ấy. Giờ tuy đã vào đại học, chị vẫn giữ cho mình thói quen này. Nhưng bên cạnh đó chị bỗng như ngộ ra điều mà thời còn học phổ thông chị đã nhiều lần ngờ ngợ: sự cô đơn!

Mùa hè là mùa của hoa phượng. Chúng nở đỏ rực ở mọi ngả đường, ngôi trường mang bóng dáng của chúng; tất nhiên cũng có vài chấm vàng của hoa điệp và hoàng hậu xen kẽ nhưng chỉ như tô điểm, bổ sung thêm cho phượng mà thôi. Mọi người trầm trồ, mọi người thích thú trước sắc màu lôi cuốn ấy song các ngôi trường vào mùa hè lại vắng bóng dáng học sinh – sinh viên hơn bao giờ hết, các ngả đường cũng thưa hơn - tất cả hoặc lấy màu đỏ ấy như là liều thuốc kích thích cho những thành công đang được trông chờ khác, hoặc chỉ dám “kính nhi viễn chi” để tìm về những gì mộc mạc, giản đơn hơn như màu xanh của đồng ruộng, màu nâu trầm của đất hay vẻ lặng của bầu trời qua mặt hồ yên tĩnh, khúc sông hiền hòa.

Tất cả còn lại - bên phượng - chỉ là những nhạc sĩ ve với bài ca râm ran, xao xát lòng người suốt ba tháng hè, để khi mùa tựu trường đến, ngắm nhìn khung cảnh trường với bao xác phượng vương vãi, chút bâng khuâng nhớ tiếc lại len lỏi vào tâm hồn những người còn cắp sách.

“Tại sao phượng lại không nở vào mùa khác nhỉ? Giá mà sắc đỏ ấy nhạt hơn một chút nhỉ?” Đã bao lần những câu hỏi ấy ùa về nhưng chị biết thật khó cho chị (và mọi người) tìm ra câu trả lời thỏa đáng nhất, chừng nào chữ “đủ” vẫn còn là khái niệm hết sức mơ hồ!

 

Quà sinh nhật

Lâu rồi mới tổ chức sinh nhật. Chẳng hiểu vì sao! Do không phải ai khác ngoài chức phó thường dân ra để có thể nhân đó mà “ân đền oán trả”? Do chẳng dư giả gì với đồng lương gồm sáu số không ở hàng sau và một số một đằng đầu trong khi lo toan vẫn còn nhiều phía trước khi ngày vui đã qua? Nói chung, chẳng có lý do cụ thể nào từ việc lâu không tổ chức lẫn hứng khởi khiến lần này tổ chức. Và cũng chẳng mời nhiều, dăm ba hảo bằng hữu bên cạnh “ấy”. Vậy mà trời chẳng chìu lòng người khi mưa không ngớt (tuy mới ban sáng đây vẫn còn trong vắt); quán lẩu quen cũng không vì có những món nóng sốt mà đông khách hơn - dăm bàn với lèo tèo khách đang lặng lẽ gắp, chẳng “dô”, chẳng “trăm phần trăm” như phải có; vì một chỗ trú chân hay vì… Một… hai… ba… vậy mà đám bạn vẫn đến dù đã tưởng chỉ mình ta với “ta” mà thôi! Tuyệt vời!...

Mưa vẫn rơi (có phần nặng hạt hơn nữa), các món chủ lực cũng đã dọn qua, chỉ còn đĩa đậu phộng muối và những câu chuyện tản mác, không đầu đuôi về “thời tiểu quỷ”, về công việc hiện tại và cả về tương lai, điều vẫn thường thấy trong bất cứ “phần hậu” của bữa tiệc nào. Và cũng thật lạ khi lúc này đây - sau mọi chúc tụng đầu tiệc và phần ăn uống ồn ào - tiếng khẩu cầm da diết, nhắn nhủ của Stay Gold [1] lại được chủ quán bật lên hòa cùng âm thanh rào rào nặng nề trên mái tôn. Quả lạ thật! Thoạt đầu là ý định tổ chức sinh nhật, sau đến cơn mưa, rồi sự hiện diện đầy đủ của các khách mời và bây giờ là Stay Gold nơi một quán nhậu! Song chẳng phải nhờ có mưa mà tình bạn lại một lần nữa được “thẩm định”? Chẳng phải bao người đã nhờ sự nhập nhòa giữa mưa và nước mắt mà giúp giấu đi con tim đang rạn vỡ để tiếp tục khoác lên bộ mặt kiêu hãnh sao? Và rồi thì tất cả đều sẽ qua, ai cũng phải tiếp tục cho mình cuộc sống trước mặt cho dù thỉnh thoảng vẫn thấy nhoi nhói “làm sao em biết bia đá không đau” sao?... Mưa là thế đấy - gợi nhớ và xoa dịu là những gì thường mang lại nhất…

Sinh nhật là phải có quà. Mọi người vẫn bảo: “Phúc bất trùng lai…” nhưng một lần nữa bất ngờ, nếu cũng được coi như sự may mắn, lại nối tiếp khi quà của hai người bạn chưa hề gặp nhau lại cùng chung một ý nghĩa: Cần có những phút dừng lại và tự đối thoại với bản thân về… về tất cả những gì có thể. Có gì thú hơn khi chỉ rót cho mình một tách trà (vì đó chính là món quà: một tách trà duy nhất đi kèm đĩa đựng) và đọc thong thả từng trang của Những quyết định thay đổi cuộc sống [2]. Một đời người có nhiều quyết định; có những quyết định tạo thành bởi sự tham vấn của nhiều đồng nghiệp, bè bạn hay người thân nhưng cũng có những quyết định chỉ đáng giá khi tự bản thân người ấy chiêm nghiệm và đưa ra. Và phần lớn những quyết định quan trọng sẽ thuộc về dạng thứ hai. Quả vậy, dù là ở tuổi mới lớn với những suy nghĩ tạo tợn, thách thức: “… so young and carefree again you will see… you thought that all would last forever…” hay tuổi đã trầm trầm đi ít nhiều thì mỗi người vẫn tiếp tục cần những giây phút độc ẩm (và cả độc thoại nữa) để xác định lại giá trị vàng của bản thân, để biết rằng món quà sinh nhật lớn nhất mà mỗi người nhận được chính là những giây phút mình hiện diện trên đời mà đừng bao giờ từ bỏ nó hay đánh mất các giá trị vàng của riêng mình. Ừ phải, “Stay gold” là điều không dễ nhưng cũng chẳng quá khó nếu biết nhận ra rằng: “Life… is but a twinkling of an eye” song những gì để lại thì đáng giá hơn rất nhiều so với cái nháy mắt ấy!

Đã 23 giờ hơn rồi, bạn bè và những nhắn nhủ cũng đã kịp ngấm vào tâm trí, những gì còn lại là những bồng bềnh vui buồn lẫn lộn bên cạnh những tiếng lộp độp vẫn không cho thấy dấu hiệu sẽ ngớt. Một ngày nữa lại sắp trôi qua tuy vậy “Xin cám ơn đời mỗi mai thức giấc…”.

-----

[1] Stay Gold: tên một bản nhạc trong phim The Outsiders (tạm dịch Những kẻ ngoài cuộc). Một bộ phim hay về những gì thường gặp ở tuổi mới lớn: nổi loạn, muốn chứng tỏ mình, háo hức chinh phục thế giới bên ngoài và dám chiến đấu để bảo vệ các giá trị cần thiết của tuổi trẻ…

[2] Những quyết định thay đổi cuộc sống: tên một đầu sách của tác giả Spencer Johnson do First News xuất bản.

2009-Jun-21 23:26 - Chồng tôi và ngõ...

Chồng tôi sinh ra và lớn lên trong một con ngõ nhỏ, nằm phía Nam thành phố. Con ngõ vắng vẻ là nơi lưu giữ những kỷ niệm về một “tuổi thơ dữ dội” của anh.

Ngày thơ, chồng tôi cũng như bao đứa trẻ khác, vô tư học và chơi. Ngày ngày một buổi cắp sách tới trường, một buổi bay nhảy cùng những trò chơi nghịch phá. Gia đình chồng tôi vốn không phải người của ngõ, ba mẹ anh là người Huế, ra Bắc lập nghiệp, mua đất dựng nhà trong con ngõ nhỏ này. Ông bà sống và dạy con cái phải biết hoà đồng với hàng xóm láng giềng, không được bắt nạt bạn bè. Ba mẹ chồng tôi có ba người con, anh chị lớn cách chồng tôi cả một thế hệ. Chồng tôi út ít, ở nhà chẳng ai chơi cùng nên cũng a dua theo lũ trẻ trong xóm quậy phá. Những hờn dỗi, cậy đông bắt nạt, ỷ lớn ăn hiếp bé, không cho bạn chơi cùng chỉ vì nhà bạn cao hơn nhà mình…trẻ con thời nào cũng có. Tôi nhớ, anh kể về những ngày tháng bị bạn bè cùng xóm cô lập vì là người từ nơi khác đến. Không cho chơi cùng, không cho đá bóng cùng, cậy đông xúm lại cướp đồ chơi của anh… Sau những trận đánh nhau giữa những anh hùng nhí với những lý do rất trẻ con, chồng tôi ra về với thân thể bầm tím. Đau lắm nhưng vẫn sợ ba mẹ rầy la hơn. Đứa bị đánh đau thì len lén về nhà thay quần áo, tự băng bó vết thương, âm thầm chịu đau một mình. Đứa đánh bạn thì lo lắng sợ ba mẹ bạn sang mách ba mẹ mình… Những đứa con ngoan ngoãn ở nhà một cách lạ thường. Nhưng trẻ con thì vẫn là trẻ con, chia bè kết phái, đánh nhau vì một món đồ chơi, rồi lại cười đùa vui vẻ như chưa có chuyện gì xảy ra ngay ngày hôm sau…

Lớn hơn một chút, chồng tôi tạm tách xa những đùa vui nghịch ngợm mà tập trung học hành. Ba mẹ chồng tôi rất nghiêm khắc đưa ra một thời gian biểu với đa số là giờ học và tự học. Chồng tôi chỉ biết ngoan ngoãn làm theo. Đôi lúc, khi tự tôn con trẻ trỗi dậy, chồng tôi cũng theo bạn bè mải chơi trốn tiết, không học bài… và cố gắng giấu cho nhau để không cho người lớn biết để tránh bị ăn đòn. Ba mẹ chồng tôi biết hết, nhưng cũng chỉ nhìn nhau cười và thầm tự hào về cậu út nhà mình: “Một đứa bé thông minh và hiếu động”. Những tháng ngày đó, ngõ vẫn im lìm nằm nghe những đứa trẻ…

Thời gian cứ thế dần trôi, chồng tôi lớn hơn, bước vào cổng trường đại học với niềm tự hào của ba mẹ với bà con lối xóm. Chồng tôi cũng tự tin hơn như những cậu trai mới lớn bước vào đời sống sinh viên đầy sôi động. Môi trường mới với sự hội tụ của biết bao tính cách văn hoá các vùng cùng tụ trung trong một tiểu xã hội này - giảng đường đại học..

Bốn năm học đại học, cuộc sống của chồng tôi giống như những giai điệu rock. Ồn ào, dữ dội như những bản heavy metal rồi lại sâu lặng như những bản ballad ngọt ngào. Nụ hôn đầu tiên của mối tình đầu với cô bạn gái gần nhà như một tia sét chạy qua người chồng tôi, để lại biết bao cảm xúc, một cảm giác không bao giờ có thể có lại. Những cuộc vui với bạn bè, những bận rộn lo toan của những kỳ thi đã chiếm đa phần thời gian của chồng tôi ngày ấy. Anh dường như quên mất con ngõ vắng thân quen. Ngõ quan sát, ngõ cảm nhận từng thời kỳ, từng cảm xúc của chồng tôi mỗi bước trên đường về. Ngõ giận dỗi, ngõ thay đổi. Ngõ nghiêng mình, phình to thêm ra để thêm chỗ cho bao nhiêu ngôi nhà cao tầng mọc lên. Không gian bị bó hẹp lại, ngột ngạt hơn, con người của ngõ nhìn nhau cũng thiếu độ lượng hơn. Ai nói ngõ không có cảm xúc nào? Con người bỏ rơi ngõ, ngõ nổi giận…

Một ngày kia, khi chồng tôi có thể bình thản đứng ngắm con ngõ thân quen, để có thể cảm nhận về sự đổi thay của ngõ, thì cũng là ngày chồng tôi biết mình phải xa ngõ. Chưa kịp hiểu thêm ngõ, mà đã phải nói lời tạm chia tay với ngõ. Chồng tôi qua Nhật học hai năm. Có đi xa mới thấm thía nỗi nhớ quê nhà và người thân. Những ngày tháng ở Nhật, vòng xoáy của nhịp sống công nghiệp không làm nguôi đi nỗi nhớ gia đình của chồng tôi. Nhớ lắm những bữa cơm gia đình, những buổi chiều đi bên người bạn gái bé nhỏ với nụ cười trong trẻo. Và nhớ cả ngõ nữa…Dường như ngõ cũng cảm nhận được nỗi cô đơn đang thiêu đốt con người chồng tôi, ngõ cũng ngóng ngày về của anh. Ngõ yên ắng chờ đợi, ngõ đem sự bình yên của mình tới gia đình chồng tôi làm yên lòng người con xa xứ. Khi xa nhà, chồng tôi phải tự tập cho mình một cuộc sống tự lập, tự chăm sóc bản thân, dần học cách tránh những cám dỗ cuộc đời. Tính cách chồng tôi cũng dần đổi khác. Chững chạc hơn, cầu toàn hơn và… Khi con người ta lớn hơn trong suy nghĩ, sẽ tự cảm thấy mình thèm được trở về ngày xưa. Ngõ cũng như có thêm thời gian để hiểu về chồng tôi, độ lượng hơn, vị tha hơn.

Chồng tôi sắp trở về. Ngõ như vui mừng cùng với ba mẹ chồng tôi. Khi thấy chồng tôi bước ra khỏi vùng kiểm soát hàng không, mẹ chồng tôi yên tâm thở phào nhẹ nhõm. Cậu út đã thực sự trở về. Ngõ nhẹ nhàng cười vui sướng khi cảm nhận lại được từng bước đi của chồng tôi trên hàng gạch của ngõ. Một bàn chân chắc nịch, những bước chân của một người đàn ông trưởng thành.

Cuộc sống với công việc lại kéo chồng tôi vào những khoảng bận rộn, nhưng không như trước đây. Giờ chồng tôi đã có thể tự chủ trong nhiều chuyện hơn, biết cách sắp xếp thời gian hợp lý hơn. Và chồng tôi đã không còn quên ngõ, chia sẻ với ngõ nhiều hơn, cùng ngõ hoài niệm về những kỷ niệm xưa. Ngõ lắng nghe, mách bảo chồng tôi hãy sống và quyết định mọi việc theo trái tim mình…

Tôi biết chồng tôi chưa được bao lâu, tôi cũng chỉ mới có thể cảm nhận được con ngõ nhỏ đó phần nào. Nhưng chắc chắn, tôi yêu chồng tôi, một điểm tựa vững chắc của cuộc đời tôi và lối ngõ đó, một ngõ nhỏ thật yên bình…

 

Quê mẹ và tuổi thơ ở quê là mạch nước ngầm của đời tôi. Khi nào khát tình cảm, khát đề tài, khát cảm hứng, thì tôi lại tìm về cái mội nước ấy.

Ở quê tôi, người ta sống bằng nghề làm vườn, làm rẫy hay làm đồ gốm. Trong làng, duy nhất có một người bán quán. Chợ thì xa nên con nít thường được sai chạy ra quán mua xị nước mắm, gói bột ngọt, ống chỉ hay viên thuốc nhức đầu. Quán đương nhiên có bán cả bánh kẹo, đồ chơi. Thường thường, có một đám trẻ con chơi dưới tán cây vú sữa trước quán. Một hôm, tôi còn đang mải mê chơi nhảy lò cò thì thằng nhỏ gần nhà chạy ra nói:

- Về đi! Má mày chết mà mày còn lo chơi.

Tôi hớt hải chạy về nhưng chẳng bao giờ kịp nữa.

Sau khi mẹ mất, tôi sống với bà ngoại, lúc nào cũng thắc thỏm sợ ngoại lại bỏ tôi đi lúc tôi đang mê chơi, mê ăn hay mê ngủ. Tôi không ra quán chơi nữa, lúc nào cũng lẽo đẽo theo chân bà. Vườn nhà ngoại không rộng, trồng mít, sầu riêng, măng cụt, cau, chuối... mỗi thứ vài cây. Tới mùa trái chín, thường có lái tới mua sỉ cả vườn, nhưng bà ngoại tôi cần kiệm, tự mình hái trái trong vườn đem ra chợ xa bán để được giá hơn.

Hồi đó, cầu Ngang chưa phát triển du lịch như bây giờ. Cây trái nhà vườn thường tập trung ở chợ Búng rồi chở xuống Sài Gòn. Những phiên chợ khuya, các bà các dì gánh những gánh hàng bông, hoa trái mới hái hồi hôm còn tươi rói, đi thành đoàn năm bảy người trong ánh đuốc bập bùng và sương khuya lành lạnh.

Đường quê tôi là đường đất đỏ. Xứ vườn có nhiều mương rạch nên nhiều cầu khỉ, cầu tre. Mùa mưa, đường lầy lội, nước chảy xiết, cầu trơn và lắt lẻo. Vậy mà tôi một hai đòi đi theo bà ngoại.

Hễ đầu hôm thấy bà xếp mấy buồng cau hay năm bảy trái mít tố nữ vô thúng, là tôi bám theo áo bà, ngủ trong lòng bà, để nửa khuya bà dậy đi chợ là tôi dậy theo. Bà chìu đứa cháu mồ côi, mặc thêm cho tôi áo ấm, đội nón vải, mang dép cao su - Ba tôi đi làm ăn ở Chợ Lớn gởi về cho tôi đôi dép nhựa màu xanh ngọc đẹp lắm, khi nào dắt tôi đi chợ bà mới lấy ra cho mang.

Chân tôi nhỏ đi chậm, mà người gánh nặng phải bước nhanh cho đỡ mỏi vai. Lúc đầu hai bà cháu còn vầy đoàn với các dì trong làng, dần dần bị tụt lại sau, rồi chỉ còn một già một trẻ, lùi lũi đi trong ánh đuốc gần lụi trong tay bà.

Đã vậy, qua cầu, tôi lại làm rớt dép. Tôi la lên. Ngoại dắt tôi qua hết cây cầu khỉ, đặt gánh xuống đầu cầu kia, rồi mới quay lại tìm. Đuốc gần tàn, chợ còn xa, sương khuya lạnh, mà bạn hàng đón mua sỉ hàng bông đâu có đợi chờ lâu. Chợ khuya nhóm độ nửa tiếng, đuốc tàn là chợ tàn. Mắt bà tôi lại kém, hai bên bờ rạch, bình bát mọc um tùm, biết chiếc dép đâu mà tìm? Loay hoay soi đuốc một hồi, bà ngoại nói:

- Thôi, bỏ đi con. Ngoại bán cau rồi sẽ mua cho con đôi dép mới.

Tôi òa khóc, tay giữ khư khư chiếc dép còn lại. Bà tôi gỡ tay tôi lấy chiếc dép để bên vệ cỏ gà ven đường. Tôi tiếc của, nhất định giữ lại. Bà ngoại nói:

- Con để chiếc dép này lại đây. Mai có đứa nhỏ nào đi soi ếch hay đi xúc cá lượm được chiếc kia thì có thể tìm thấy chiếc này, hiệp thành đôi mà mang. Chứ người ta ai cũng có hai chân, con giữ một chiếc, người khác lượm được có một chiếc, chẳng ai mang được.

Ít lâu sau, ba tôi đón tôi về Sài Gòn cho đi học. Đang lúc tôi còn học đại học thì bà ngoại qua đời. Suốt đời, bà không hề biết một chữ i tờ nào. Nhưng bà đã dạy tôi bài học hay nhất mà tôi ôn đi ôn lại suốt đời mình.

Quê mẹ và tuổi thơ ở quê là mạch nước ngầm của đời tôi. Khi nào khát tình cảm, khát đề tài, khát cảm hứng, thì tôi lại tìm về cái mội nước ấy. Ở quê tôi người ta gọi nơi nước ngầm trào lên là cái mội nước. Tôi viết về quê tôi, kể về quê tôi, từ ký ức tôi mang theo khi xa quê. Ở thành phố, ở xứ người, quê nhà trong tôi hoà quyện cả hồi ức lẫn tưởng tượng.

Có lần, tôi dắt cháu tôi đi tìm con suối mà tôi đã kể cho nó nghe nhiều lần: "Hồi nhỏ dì Hai thích đi chơi suối, hái trái sim tím, trái cơm nguội đen ăn ngon lắm, rồi lội suối bắt cá lòng tong, cá lìm kìm chơi vui lắm".

Cháu tôi ngong ngóng miết mới tới ngày hôm nay, được theo dì về quê ngoại, tìm con suối thần thoại của tuổi thơ.

Cái háo hức của đứa bé bây giờ chưa từng biết về dòng suối hòa với nỗi bồi hồi của con bé hơn 30 năm trước thường chơi bên dòng suối nay đang trở về tìm lại hang cúc xưa. "Bé Bi biết không, con cúc nhỏ xíu như hạt cát vậy. Nó đào hang trong cát, miệng hang hình cái phễu nhỏ xíu trên mặt cát, dễ thương ơi là dễ thương. Buổi sáng mình ra bờ suối, ngồi thụp xuống tìm cái miệng hang con cúc, thổi nhẹ nhẹ cho cát dưới đáy phễu bay đi. Nhớ là thổi nhẹ thôi, rất nhẹ, để con cúc không hay biết gì hết. Nó cứ yên trí ngủ say dưới đáy hang cho đến khi cát bị thổi bay hết, và con cúc bị lộ ra, luống cuống xoay trở tứ phía, chỉ còn một cách thoát thân duy nhất là lại vùi mình vô trong cát".

Cát vét từ lòng suối lên rất mịn, nhuyễn và trắng phau. Người ta phải thường xuyên vét cát trong lòng suối đắp lên hai bờ, lại cắm những cọc tre dọc bờ suối để giữ cát. Tre mọc thành rặng xanh um dài theo hai bờ suối, cành và ngọn tre giao nhau tạo thành một vòm xanh che bên trên con suối.

Nhìn từ trên gò cao, dòng suối giống một con rồng tre xanh uốn lượn qua những rẫy cà, rẫy mướp. Lội theo dòng suối chẳng khác naò đi vào lòng một hang động ngoằn ngoèo hun hút, róc rách tiếng nước chảy, rì rào tiếng gió thổi qua lá tre, thỉnh thoảng ánh nắng xuyên vào làm mặt nước lấp lánh.

Từ xa hai dì cháu có thể nhìn thấy con suối rồi, tuy tôi nhận ra nó nhờ ký ức chứ không phải bằng hiện thực.

Cháu tôi bảo nó không giống con rồng xanh chút nào, mà giống con trăn già da mốc thếch. Tre đôi bờ thưa thớt, xác xơ. Tôi đổ thừa cơn hạn vừa rồi làm con suối cạn queo gần một tháng. Nhưng tôi cũng đoán là mươi năm gần đây, dân số làng tôi đông quá, người khá lên cũng nhiều mà người nghèo đi cũng đông. Trẻ con lội suối bắt được con gì cũng kể là thức ăn, mụt măng nào vừa nhú lên mà bị nhìn thấy là bị bẻ ngay.

Hai dì cháu đến bên bờ suối, sự so sánh của cháu tôi tỏ ra chính xác. Cát bây giờ không trắng phau, hoặc vẫn có màu trắng đó, nhưng vì lẫn quá nhiều rác rưởi nên ngó nó dơ dơ. Cháu tôi hăm hở lội xuống suối, nhưng tôi giơ tay giữ nó lại, như một phản xạ khi thấy nó sắp dẫm chân vô vũng lầy. Nước suối không trong ngần như xưa, mà lòng suối cũng không còn lộ ra những viên sỏi đủ màu lẫn trong cát êm như dòng suối tôi còn nhớ.

Nhờ mấy trận mưa vừa qua, con suối lại róc rách chảy, nhưng nước đục lợn cợn, mùi hôi hóa chất cùng chất thải công nghiệp theo dòng suối vào từng con mương thấm vào những mảng vườn măng cụt, sầu riêng. Phất phơ hai bên bờ suối những bao ni-lông và các thứ rác của xã hội tiêu dùng như ống hút, dây thun, giấy gói quà, bình nhựa đủ dạng màu kích thước, chén dĩa xài một lần, băng vệ sinh ...

Không đến nỗi ngổn ngang như một bãi phế liệu hay đống rác ngoại thành, nhưng mỗi thứ có một ít đại diện cũng đủ làm tôi đứng lặng yên nghe đứa nhỏ trở về trong tôi bật khóc.

Mỗi khi mưa lớn, con suối trở thành cuồng lưu, nó cuốn theo dòng chảy mọi thứ từ rừng đầu nguồn và suốt hành trình qua những gò đồi nương rẫy, rồi mới cặp theo đường làng đổ vào một con rạch nhỏ chảy ra sông Búng, con sông này ra khỏi địa phận làng tôi thì được gọi là sông Sài Gòn.

Hồi nhỏ, mỗi khi mưa tạnh, tôi thường chạy chân đất ra bờ suối khi dòng nước còn cuồn cuộn chảy xiết. Tôi hồì hộp tìm kiếm trong những cành lá cây gẫy rụng bị cuốn theo dòng rồi vướng vào những gốc tre.

Đôi khi một chiếc thuyền xếp rất công phu bằng giấy học trò, nhưng đã te tua sau hành trình bão táp, mệt mỏi tấp vào chân tôi. Tôi lượm lên tỉ mỉ mở lần theo từng đường gấp, thán phục sự khéo léo của người nào đó, ở xa lắm trên nguồn, chắc là phía Tân Khánh hay Tân Uyên, cố đọc trong những vết mực lem luốc một thông điệp gì đó mà chiếc thuyền con đã chở đến tôi.

Còn tiếp...

(Trích tác phẩm Miên man tùy bút của nhà văn Lý Lan, NXB Văn Nghệ, tháng 5/2007).

Vườn xưa còn trong tâm tưởng như một giấc mơ thời thơ trẻ, thời vô tư nằm đưa võng cả buổi trưa trong vườn mà không ngủ được, bỗng dưng có con nhen nhỏ chạy băng qua đám lá khô.

Rồi khi con suối nguôi ngoai, hay đã mệt mỏi, dòng nước trở lại vẻ bình lặng, ung dung róc rách, tôi xé trong tập của mình một tờ giấy, nắn nót đề câu gì đó, rồi phỏng theo đường xếp của chiếc thuyền kia, tự mình xếp một chiếc thuyền khác, thả xuôi dòng suối chảy qua làng, dặn dò nó hãy đi thật xa, trôi ra Búng, trôi tới Sài Gòn, mở trí tưởng tượng của tôi đến một thế giới huy hoàng rực rỡ tận phương trời xa xôi đó. Bây giờ từ phương trời xa xôi đó tôi trở về làng nhìn rác rưởi của “thế giới rực rỡ huy hoàng” tấp vào đôi bờ con suối tuổi thơ tôi.

Tôi lẩm bẩm như người mê nói với đứa cháu: "Hồi xưa, hồi dì còn nhỏ...". Đứa bé nghiêng đầu nghe bằng một nửa tai, như những đứa trẻ bây giờ nghe chuyện cổ tích. Nó không thắc mắc gì về những rác rưởi trôi lềnh bềnh theo dòng nước. Sông suối bây giờ chảy qua một khu công nghiệp và một khu du lịch trước khi chảy qua làng. Những thứ nó quăng lên bờ thôi thúc những đứa trẻ vườn măng lớn vội lên để xin một chỗ làm mướn trong khu công nghiệp Singapore, hay chân tiếp viên nhà hàng máy lạnh ở công ty du lịch.

Đứng bên con trăn già da mốc thếch bây giờ, tôi nhận ra mình đã thành một bà dì, đang cố gắng dụ dỗ cháu bằng chuyện cổ tích. Hồi xưa, có một dòng suối trong mát ngọt lành chảy qua vườn măng cụt sầu riêng, có một chiếc thuyền giấy chở ước mơ qua làng, thôi thúc một đứa bé làm thơ…

Và có một ngày, tôi đi quanh làng quê của mình như một du khách. Làng tôi chỉ cách trung tâm Sài Gòn vài mươi cây số, từ lâu rồi đã nổi tiếng là nơi nghỉ cuối tuần của dân thành phố. Một con sông nhỏ, nhỏ đến nỗi thuộc tính này trở thành tên riêng để gọi nó.

Mấy nếp nhà ngói thâm thấp ẩn hiện trong những vườn cây ăn trái âm u. Hầu như các loại trái đều hẹn nhau chín vào mùa hè, rộ lên một hai tháng. Mười tháng kia, cây cối chỉ là cành với lá. Lá xanh rì lao xao trên cao, và lá khô rã mục âm thầm quanh gốc.

Mùa mưa thỉnh thoảng làm biếng đi chợ làng - đi bộ cũng hơi xa, đường đất lầy lội, cầu tre lắt lẻo khó đi - tôi lại ra vườn lật lên những lớp lá và rơm ủ gốc cây. Một thế giới "xì trum" hiện ra với những tai nấm trắng nõn tròn vo, ngộ nghĩnh đến mức tôi cứ ngồi xổm cả buổi trong vườn, ngắm mãi những tai nấm đang nở, tưởng tượng ra hàng tỉ chuyện hoang đường. Những khúc gỗ cây so đũa, hai ba khúc ghép lại, bắc ngang mương trong vườn, mùa mưa cũng nọc đầy những tai nấm mèo quăn queo. Nấm tươi, mặt mịn láng, màu nâu trong veo, nấu chè thưng ăn nghe dòn sựt.

Mùa khô cây thay lá từ từ, lá già rụng đến đâu, lá non mọc lên đến đó, mà áng chừng lá non còn mọc lẹ hơn lá già rơi. Buổi trưa trong vườn vẫn râm mát, nhưng quang đãng hơn, có thể giăng võng dưới tán măng cụt hay sầu riêng nằm đọc sách.

Thỉnh thoảng, gió nổi lên chỉ đủ làm một lượt lá khô rơi lả tả quanh võng. Có mấy con nhen, con sóc chạy sột soạt trên đám lá khô, bỗng dưng đứng chựng lại, trố mắt nhìn trân trối cái gì đó, rồi lại ù té chạy. Không phải ai cũng luôn luôn được chứng kiến hoạt cảnh này; phải nằm võng lâu lắm, giả đò ngủ quên nhiều lần, mới được gặp một lần những con nhen lưng có sọc hết sức tức cười đó.

Nhưng quanh năm sống trong vườn thì buồn. Nhất là khi người ta mới lớn lên. Sài Gòn chỉ cách một giờ chạy xe gắn máy. Chỉ cần một giờ và một chiếc xe gắn máy, người ta nghiễm nhiên nhập vào hàng triệu người đủ loại đang ngược xuôi đua tranh, người ta được chiều chuộng săn đón ở những khu thương mại - giải trí, người ta ngây ngất ngấm say cái không khí bon chen, vội vã, ồn ào, khoa trương, hào nhoáng, kiêu kỳ, gọi chung là văn minh đô thị.

Những đứa trẻ vườn lớn lên không so đo tuổi tác, mà bì nhau rằng nó đã đi Sài Gòn mấy lần rồi: thằng kia tới hôm qua mới đi Sài Gòn một chuyến, con bé nọ mười mấy tuổi rồi mà còn chưa biết Sài Gòn là gì.

Ngày tôi rời làng quê "lên Sài Gòn", thật tình tôi có hãnh diện với lũ bạn trẻ con, tự thấy mình hơn chúng một bậc, mà không biết "hơn" cái gì? Nhưng rồi những đứa trẻ vườn khác cũng lần lượt lên Sài Gòn, đứa đi học, đứa đi làm công, buôn bán... Người lập được cơ nghiệp ở thành phố thì kể như thành đạt, kẻ lận đận công danh cũng cứ bám lấy Sài Gòn, lập luận rằng không sống được ở đây thì còn đâu hơn mà sống chứ?

Vườn xưa còn trong tâm tưởng như một giấc mơ thời thơ trẻ, thời vô tư nằm đưa võng cả buổi trưa trong vườn mà không ngủ được, bỗng dưng có con nhen nhỏ chạy băng qua đám lá khô.

Một hôm tôi về làng tôi như một du khách. Kể cũng đã nhiều năm trôi qua và làng tôi cũng thay đổi theo quy luật thị trường: Người giàu có ở đô thị hoặc ngán ngẩm phồn hoa hoặc theo thời thượng làm sang phải có nhà nghỉ, nhà mát, trang trại, đã tìm về làng tôi mua những mảnh vườn vẫn còn âm thầm nhớ bọn trẻ ngày xưa từng hứa trở về.

Huê lợi vườn năm được năm thất, thuế mỗi năm một tăng, mà nhu cầu hiện đại hóa cuộc sống mỗi ngày một nhiều. Người ta bán vườn đi, ra khu dân cư gần xa lộ có điện có phố, đi làm trong khu công nghiệp hay lên Sài Gòn buôn bán, sống qua ngày.

Vườn có chủ mới, nhà kiểu cọ như trong ca-ta-lô mọc lên, từ trong đó ánh sáng đèn màu và nhạc hip hop dội ra. Đó là những nhà vườn du lịch, hấp dẫn một lứa trẻ khác, những lứa trẻ lớn lên ở đô thị bụi bặm, đến tuổi hẹn hò thèm một góc vắng giữa thiên nhiên lãng mạn.

Tôi về làng tôi, mua vé qua chiếc cầu bắc ngang con sông nhỏ do Công ty Du lịch đầu tư xây lại, chắc chắn và rộng rãi hơn xưa, có tay vịn bằng xi măng giả khúc cây so đũa. Mấy người bạn tôi rủ theo mướn chiếc xuồng bơi vô mấy con rạch nhỏ luồn dưới tán cây trong vườn.

Vô vườn mỗi người mướn một chiếc võng giăng dưới cành chôm chôm, vừa nằm nghỉ vừa ngó chừng đồng hồ đeo tay, vì ngày lễ khách đông, võng cho mướn theo giờ. Tôi uống nước dừa và ăn trái cây chở từ nơi khác đến, vì cây trong vườn giờ chỉ để làm kiểng thôi.

Những du khách không câu nệ về xuất xứ trái cây, vả chăng họ cũng không phân biệt được. Họ cứ thoải mái duỗi mình trong võng thiu thiu ngủ, tới giờ bật dậy ra nhà hàng ăn uống đặc sản. Tôi nhớ đặc sản làng tôi là bún, bánh bèo, bánh đúc, bánh tráng, chứ ở đâu ra cá rút xương, cua lột, tôm sú... như vầy? Cả thịt nai, thịt nhím nữa chứ?

Một ngày bơi xuồng trên sông rạch quanh co, đi dạo trong vườn cây ăn trái mênh mông, ngủ võng đòng đưa bên bờ sông hiu hiu gió thổi, rồi ăn uống ngon miệng no nê, có nhạc nghe, có quà lưu niệm, có trái cây đùm mang túi xách đem về Sài Gòn, ai cũng hả hê, cảm thấy một ngày "về quê" tôi chơi thật xứng đáng. Ai cũng nói: "Hèn gì tôi cứ nhớ quê!".

Tôi cười rưng rưng, nửa vui vì bạn bè về làng quê tôi được vui thích, nửa ngậm ngùi vì cái mà bạn đang vui thích đó, nào có phải làng quê tôi đâu?

(Trích tác phẩm Miên man tùy bút của nhà văn Lý Lan, NXB Văn Nghệ, tháng 5/2007).

2009-Jun-21 23:24 - Đất Thiền

Vừa mới lập hạ, về làng Long Châu để hòa mình trong nắng tươi lốm đốm vàng hoa cỏ. Gió khoáng đạt đỉnh núi và chạy đuổi nhau theo đường làng đất nâu mờ nhạt vệt đá ngàn năm. Giữa chốn vắng lặng và xanh tươi của cuộc sống đang sinh sôi, tâm trí được trở lại với thiên nhiên, tự dưng thấy lòng trong trẻo và hồn hậu.

Lặng lẽ đi, ngắm từng vệt thời gian trầm tư, để nghe từng hơi thở của ngày tháng xa xưa. Hình như, quá khứ vẫn đang rì rầm trò chuyện.

Lần theo lối cổng sau nhà chùa, bước qua khúc đường quanh đến giếng đang cạn nước. Nhìn rõ những khóm dương xỉ xanh non trên nền rêu đậm đang ánh lên dưới làn nắng lọc xuống lòng giếng tối. Những tảng đá xếp chồng nhau trong một chiều sâu hút âm âm, mát mẻ. Lên cao là những phiến đá được đẽo hình vòng cung, kết liền nhau tạo cho lòng giếng có dạng ống trụ tròn, mượt mà. Đẹp quá! Thường khi đào giếng người ta chỉ xếp vòng những hòn đá hoặc khối có dạng hình hộp chữ nhật, vậy mà ở đây - đã bao nhiêu công sức để đục và mài nhẵn từng phiến lớn? Cúi hẳn mình vào lòng giếng, tưởng như tiếng cười cong cong hình liềm trăng lẫn trong cơn gió mồ hôi mát rượi của những người thợ đá còn văng vẳng.

Chỉ vài bước nữa, mái đình cổ đã nghiêng đón, cong vút trên nền đá lớn. Những tảng đá xanh dài hơn một cánh tay, vững chãi và nhẫn nại, đỡ lấy từng chân cột vạm vỡ, nâu bóng như có một làn nước mỏng manh bao tròn quanh thân gỗ. Trên kia, giữa nền trời xanh điểm loáng thoáng mây thiền từng cặp nghê đá đang tung bờm, phất đuôi múa lượn. Hình như mấy trăm năm rồi, đêm nào đàn nghê đá vẫn đùa chơi trên những nếp ngói xếp vảy cá đều tăm tắp mang hình sông hồ sóng bể chồng nhau lớp lớp. Để sớm ra, cả đàn lại đứng bất động trong một tư thế sẵn sàng tung mình lên những làn gió. Cặp voi, cặp ngựa đắp nổi trên cổng đình, uy nghi và kiêu dũng, còn nguyên hàm thiếc, yên cương thêu mây và con kỳ lân đeo bức Lạc thư, còn nguyên ngai, lọng đính tua rua. Phía trên là đàn rồng cách điệu hoa lá, và những chim phượng gắn mảnh sành mảnh sứ đậu cao chót vót. Tất cả sẵn sàng bước vào những cuộc rước nghinh thánh dài bất tận.

Phủ lên không gian thiêng ấy, lớp áo nâu bụi đất thời gian, và trên đó, một con mèo lông trắng loang vàng xinh xắn, lúc ngồi bất động giữa ô cửa gỗ, lúc chợt vút lên đuổi bắt những chiếc lá rụng xoay tròn trong gió. Hình như ít ai biết rằng, mèo trắng kia hiểu được tiếng mời gọi của đàn linh thú, và ngày ngày, vẫn chốn khỏi một ngôi nhà nào đó trong xóm để lên đình rong chơi.

Người làng đi qua trước đình, cung kính và gần gũi, múc nước giếng lớn trước cổng, múc nước giếng ven chùa những ngày mưa xuống, những ngày tràn trề mạch ngầm, đem về pha trà. Để thấm trong khói thơm mỏng và vị chè chát nhẹ, một làn hương khác của đất đai. Mùi hương ấy, mát ngọt màu tuổi tác, màu sức vóc những đời người, và dâng những triền phù sa xanh ngút ngát. Lúc này đây, sư thầy trụ trì chùa Long Tiên, cũng đang nhẹ nhõm rót những làn khói như thế vào chén mắt trâu đỏ sậm. Vào chùa, không còn phân ngôi chủ khách, cùng nâng chén lên cung kính, cảm tạ trời đất đang đọng cả vào phút lặng thưởng trà. Nhấp ngụm nhỏ, nhìn thấy tiếng những ống trúc treo dưới hiên đang va vào nhau theo gió, tung tang, tung tang, tóc, tóc, tung tang, tóc, tong, tách, lách cách, tung tang, tung tang... muôn trùng những vô thanh, miên man và phiêu diêu. Ngoảnh mặt nhìn khóm nhài bạch và những bụi ngâu hoa trắng li ti lất phất nâu vàng cũng vừa độ mở, hương nhẹ bay, lần theo lối gạch phủ rêu đến trước gian đại điện. Dưới ánh nhìn của những pho tượng uy nghi, vô ưu, các học trò làng cặm cụi làm bài. Những ánh mắt cũng đang trông xuống trang giấy sáng sủa, dần hiện lên những hàng chữ đều đặn. Ở đó, một ánh nhìn khác trông lên như có ý hỏi han, chờ đợi. Vì hôm nay, thầy giáo dạy Văn từ Hà Nội về, ra đề truyện ngắn Đôi mắt của Nam Cao.

Lớp học ra đời từ bảy năm trước, từ khi sư thầy về làng Long Châu nhận chùa. Xếp từng chồng kinh thư, từng bộ triết học, những cuốn tự điển Hán Việt dày và nặng vào tủ, vào giá, ý nghĩ nhỏ nảy sinh, vọng ra ngoài thôn xóm theo tiếng chuông ngân từng chiều. Nhà chùa loan báo cho dân làng, mời các em lên học tập, mời những người bạn của sư thầy, là sinh viên, cán bộ... từ Hà Nội về dạy học, vô tư và nhiệt thành. Đã qua bảy lần lập thu, có một lớp trẻ đang trưởng thành, tâm, trí và lực sáng dần từ cánh cửa chùa, ngay trên đất đá ngôi làng khuất nẻo.

Từ nơi kinh mõ vang đều đặn, không phải là sự vắng vẻ, tịch mịch đến lặng người, mà là những tươi mới của đời sống, những lớp học ngoại ngữ, văn, toán, vinh tính..., những lời ca quan họ mượt mà, những buổi tập viết thư pháp, học bốc thuốc..., là những ao ước mở mang, vươn lên của đám trẻ làng, đã được lọc qua tiếng chuông chùa từ bi, vì thế càng trở nên thuần khiết, hoà hợp. Dân trong làng hay kể về chùa Long Tiên với người từ nơi xa vãng lai hoặc khách dừng chân uống nước trước khi chiêm ngoạn, thăm chùa Trầm, chùa Vô Vi, chùa Ninh..., ngắm quần thể núi đồi vùng Phụng Châu sơn thanh thuỷ tú với núi đá vôi Tử Trầm và những quả núi đất, từ xa xưa những nghìn năm nào đã đội đất nhô lên, dựng thế đứng long, ly, quy, phượng. Rằng đã có nhiều em đỗ đại học, cao đẳng..., rằng cùng với kiến thức, các em được thấm nhuần những bài giảng đạo lý, những bài học làm người.

Vì thế trong bài văn hôm nay ôn thi Đại học hôm nay, các em đã nói cả về cuộc sống mới với đôi mắt nhìn của mình, với tất cả những háo hức, mong đợi, cả với những suy tư, ngẫm ngợi, những tâm niệm đã qua bảy lần lập xuân, càng được mài, được chuốt cho thêm tươi sáng, thêm trong trẻo từ mảnh sân chùa rêu phủ. Và hôm nay, từ hôm xưa trở lại và kéo dài tới hôm mai, làng cổ Long Châu, mang đôi mắt đất đai ngàn năm, lại đang mở những ánh nhìn tươi non và trầm lắng để đón nhận, để che chở trên mình, tất cả những vi diệu của mạch đập đời sống, mãi mãi sinh thành, mãi mãi lung linh và hiền hoà.

 
[ Last Page ] [ Page 1 of 4 ] [ Next Page ]